Thứ Bảy, 30 tháng 7, 2011

ĐOÀN CHUẨN- Một giai thoại đẹp và buồn


VĂN QUANG - Ðoàn Chuẩn một giai thoại đẹp và buồn
(07/22/2011 06:02 PM) (Xem: 210)

Có những đêm về sáng
Ðời sao buồn chi lắm cố nhân ơi!

Ðó là nhạc Ðoàn Chuẩn. Nhạc của ông thường vẳng lên trong tâm tưởng tôi suốt 12 năm nằm trong “trại cải tạo” giữa những núi rừng miền Bắc giá buốt và miền Nam hiu quạnh. Không còn là nỗi nhớ, không còn là những tiếc nuối mà là nỗi u uất, thăm thẳm mịt mờ. Còn gì bi thảm hơn những đêm về sáng, nằm một mình giữa rừng núi hoang dại và mình cũng dại dột nhìn về dĩ vãng. Tuy thế, nhìn về dĩ vãng vẫn hơn là nhìn về tương lai chẳng có gì, chẳng còn gì, cũng thăm thẳm mịt mờ như núi rừng đêm nay và tất cả mọi đêm.

Nỗi ao ước âm thầm: Ước gì được nghe trọn vẹn một bản nhạc của Ðoàn Chuẩn!

Ðau xót mà nghe, càng nghe càng thấm, nghe bao nhiêu đau bấy nhiêu, như người ta muốn khóc thật to để vơi được phần nào những buồn khổ. Nhưng làm sao nghe được trong hoàn cảnh đó. Cho nên nó cứ vương vất nghẹn nỗi đau làm sao. Chỉ trong hai câu trong bản nhạc đó thôi, hình ảnh của người yêu, của bạn bè bật dậy, cả một quãng đời hiện lên mơ hồ, quằn quại như điệu múa từ tiền kiếp, không bao giờ gặp lại.

Hôm nay giữa T P Saigon, tôi ngồi nghe lại cả một cuốn CD nhạc Ðoàn Chuẩn khi nghe tin anh mất. Từ Hà Nội một người bạn tôi điện thoại cho biết tin này đầu tiên, trước khi những tờ báo ở Sài Gòn loan đôi dòng về tin buồn này. Người bạn tôi đã có từng có thời gian ở Hải Phòng vào những năm 1952-1953 và cũng đã có một số kỷ niệm với anh Ðoàn Chuẩn. Tôi cũng có một vài kỷ niệm nhưng là rất nhỏ, trước hết là nó nhỏ với một nghệ sĩ lớn tuổi như Ðoàn Chuẩn, có lẽ đến sau này anh chẳng còn nhớ tôi là “thằng nhóc” nào. Bởi anh hơn tôi đến gần 10 tuổi. (Anh sinh ngày 15-6-1924, tôi sinh năm 1933). Tuổi 19-20 với tuổi 30 khác nhau nhiều lắm. Còn hơn thế, hồi đó anh đã là một nghệ sĩ có tên tuổi, còn tôi chỉ là một anh “nhí”, đang là một “mầm non văn nghệ”.


Ðoàn Chuẩn và nhóm văn nghệ Hoa Niên

Nhóm Văn nghệ Hoa Niên của Hải Phòng thành hình vào khoảng năm 1952 do họa sĩ Trọng Thường thành lập. Thời kỳ của những thành phố mới hồi sinh sau giai đọan đầu của kháng chiến chống Pháp. Cả thành phố Cảng của miền Bắc dường như chỉ có một nhóm văn nghệ duy nhất đó thôi. Người trưởng thành nhất là họa sĩ Trọng Thường, anh đã từng tham gia trong một vài đoàn văn công kháng chiến rồi trở về “thành”, hồi ấy người ta gọi là “dinh tê”. Nhóm văn nghệ gồm khoảng chừng trên 10 người, những ca sĩ “hạng nhất” vào thời đó như Ngọc Quang, Tường Vi và những ca nhạc sĩ mới ra lò như Hoài An, Huyền Linh, Phó Quốc Thăng, Thu Huyền, Lương Thảo, Trần Hải… Sở dĩ tôi được gia nhập nhóm này vào cái tuổi 19-20 vì thỉnh thoảng đi chơi với Lương Thảo, Trần Hải và cũng đã có vài bài viết lách trên mấy tờ báo ở tận Hà Nội như Cải Tạo, Tia Sáng. Thời đó, Hải Phòng chưa hề có một tờ báo nào.

Vì thế nhóm văn nghệ “tài tử” này được dư luận chú ý. Khoảng giữa năm 1952, chúng tôi chuẩn bị tổ chức một buổi trình diễn thi ca nhạc kịch tại nhà hát lớn thành phố. Một tờ chương trình được in rất xôm, bài thơ của tôi đã “được đăng” trên nhật báo Tia Sáng cũng xuất hiện trên trang 2 của tờ chương trình này.

Trước buổi trình diễn thi ca nhạc kịch chừng một tuần lễ, anh Ðoàn Chuẩn đến thăm. Trụ sở của chúng tôi là căn nhà ngoài của anh em ca sĩ Ngọc Quang, trên con đường nhỏ gọi là Ngõ Nghè. Anh Ðoàn Chuẩn lúc đó đã đạo mạo lắm rồi. Dáng người khỏe mạnh, bảnh bao nhưng rất hiền lành. Anh hỏi thăm về đêm trình diễn và dĩ nhiên anh Trọng Thường không bỏ qua dịp may mời anh Ðoàn Chuẩn trình diễn một bản guitare Hawaiennne vốn là thứ đàn mà anh Ðoàn Chuẩn rất thành thạo. Anh nhã nhặn từ chối lấy cớ bận đi Hà Nội. Anh chỉ hứa sẵn sàng cho mượn một cái magnétophone để thu lại toàn bộ chương trình hôm đó. Vào thời này có được cái máy như thế không phải là chuyện nhỏ. Không những phải là con nhà giàu mà con phải là tay biết chơi mới gửi mua thứ này tận bên Tây. Nhưng rồi đến đêm trình diễn, chuyên viên thu thanh đã làm cháy cái máy ghi âm đó của anh.
Công tử của thành phố Cảng

Cũng vì chuyện này mà sau đó vài tuần tôi còn được gặp lại anh Ðoàn Chuẩn. Anh hỏi thăm anh Trọng Thường để lấy lại chiếc magnétophone. Anh Ðoàn Chuẩn cho tôi leo lên chiếc xe hơi, đó là chiếc xe Buick kềnh càng, láng coóng. Hồi đó cả miền Bắc chỉ có hai chiếc xe Buick nên anh Ðoàn Chuẩn rất tự hào về điều này. Nếu không có vụ này chắc chẳng bao giờ tôi được ngồi trên chiếc xe đó. Tôi đưa anh đến nhà anh Trọng Thường ở phố Cầu Ðất lấy lại chiếc máy dù nó đã bị cháy. Anh nhận lại máy mà không hề phàn nàn một tiếng. Tôi lo ngại theo dõi từng thái độ của anh và tôi lễ phép nói: “Cả nhóm lo lắm, anh Trọng Thường rất ân hận, phải trốn anh đấy. Không biết lấy gì mà đền anh đây”. Anh lắc đầu: “Anh sẽ gửi đi sửa, có ai muốn làm cháy đâu.” Tôi kính phục cử chỉ đó của anh.

Hồi đó anh được tiếng là công tử thành phố cảng. Một thành phố có hoa phượng đỏ trên cao, có lá me bay vàng đường và có những tàn lá bàng che rợp những mái hiên, nhưng không có những hàng sấu như Hà Nội. Gia đình anh nổi tiếng, hầu như khắp thành phố này không ai không biết tên. Hãng nước mắm Vạn Vân không chỉ nổi tiếng ở Việt Nam mà là ở cả Ðông Dương. (Người ta thường truyền tụng “cốm Vòng, cà Báng, húng Láng, tương Bần, nước mắm Vạn Vân).

Cửa hàng nhà anh gồm bốn năm gian rộng trên đường vào Chợ Sắt. Thỉnh thoảng có dịp đi qua trước nhà anh tôi thường lén nhìn vào, cũng chẳng biết để làm gì.

Trong óc tưởng tượng của tôi, đôi khi tôi nghĩ đến một ngày nào đó sẽ được thấy chị Ðoàn Chuẩn. Qua những bản nhạc của anh, qua cung cách sống của anh, tôi hình dung ra một thiếu phụ rất hiền rất đẹp, da trắng như trứng gà bóc, vận chiếc áo dài bằng nhung xanh (màu xanh vốn là màu của Ðoàn Chuẩn), cổ đeo chiếc kiềng vàng, chân đi đôi hài thêu, đầu vấn tóc trần, có đôi mắt bồ câu đen lánh… Nhưng quả là tôi chưa thấy bao giờ, cho nên đến nay hình ảnh ấy vẫn còn nguyên vẹn trong tôi.

Sau năm 1954, anh ở lại miền Bắc, tôi ở miền Nam. Tôi có nhiều dịp để tìm hiểu về anh và những nghệ sĩ còn ở lại miền Bắc. Nhưng về anh thì tuyệt vô âm tín. Những nghệ sĩ như Văn Cao, Tô Vũ còn thấy sáng tác, còn tham gia hoạt động ở một số cơ quan. Song Ðoàn Chuẩn thì vẫn yên lặng. Thỉnh thoảng nghe lại những bản nhạc của anh, tôi thực sự thấy lòng nao nao. Gửi gió cho mây ngàn bay, Thu quyến rũ, Tà áo xanh, Tình nghệ sĩ… đều là những tác phẩm bất hủ. Những phòng trà ca nhạc, vũ trường thời đó hầu như đêm nào người ta cũng được nghe những bản nhạc Ðoàn Chuẩn, lên ngôi nhất là Thu quyến rũ do Ánh Tuyết hát (Ánh Tuyết xưa chứ không phải Ánh Tuyết ngày nay tại Sài Gòn, không phải Ánh Tuyết trong CD nhạc mà tôi vừa nghe vừa viết bài này).

Tôi phát biểu ở đây một nhận định rất riêng tư, một so sánh đầy cảm tính. Nếu nhạc của cố nhạc sĩ Văn Cao thanh cao, lời lẽ rất văn hoa, bay như cánh chim trong khung trời hoa thơm cỏ lạ đến tận Thiên Thai thì nhạc của cố nhạc sĩ Ðoàn Chuẩn lời lẽ bình dị, không bay bổng nhưng thấm sâu, rất sâu, hầu như bài nào cũng là nỗi nuối tiếc, đau đớn của con người thật đang sống. Có cảm tưởng như nỗi đau ở trước mặt, có thể sờ thấy, có thể cảm nhận rất rõ, nó quanh quẩn đâu đó như một phần cơ thể của chính mình. Nó gần gụi với người nghe lắm, như một lời tâm tình giản dị mang xuyên suốt một tình yêu tuyệt vọng với hình bóng thân thuộc của quá khứ đã… tàn rồi nhưng không bao giờ phai. Những bản nhạc của anh thường ký tên chung với một người bạn thân là Từ Linh, có người nói Ðoàn Chuẩn chỉ ký tên chứ Từ Linh không làm nhạc, nhưng có người bạn tôi là anh em kết nghĩa với Từ Linh lại cam đoan rằng đã từng thấy Từ Linh làm nhạc. Nhưng Từ Linh không xuất hiện bao giờ nên Từ Linh như một “ẩn số” với nhiều thính giả. Theo tin tức tôi có thì Từ Linh đã mất vào khoảng năm 1987 vì bệnh ung thư.
Những bí mật về bài ca được công bố cuối cùng

Ngòai những bản nhạc tôi đã nghe đi nghe lại không biết bao nhiêu lần, tôi thật sự kinh ngạc khi nghe bài Vĩnh Biệt trong CD “Gửi gió cho mây ngàn bay” do nữ ca sĩ Ánh Tuyết hát, Trung tâm băng nhạc Trẻ thực hiện, Bảo Chấn hòa âm. Thoạt tiên mở đầu bản nhạc, nghe như có tiếng trống thúc đâu đây, cứ ngỡ là bài hùng ca. Và ngay câu đầu tiên người ta đã nghe thấy lời ai oán của một “chiến tướng” đứng trước một thành quách bị tàn phá dưới tay quân địch: “Ai đốât Cô Tô thành vì đôi mắt giai nhân hề, lửa cháy báo tin rằng thành quách ta… Ai trót nhấp men tình để Mỵ Cơ thương nhớ, khi khóc rồi Tiễu Nhiên còn mơ…” “Em khác gì Quỳnh Giao, lúc cam lòng phung phí hết xuân xanh, lúc đêm về, thương cho đời mà cũng ghét cho đời mà cũng chán cho đời…” Tâm tình Tiễu Nhiên – Mỵ Cơ, Phạm Lãi – Tây Thi phải chăng chính là tâm trạng tác giả: Thương, ghét và chán chường? Nỗi niềm u ẩn cho cuộc tình và cho cuộc đời mình. Bài ca Vĩnh biệt còn được gọi là “Bài ca bị xé”. (Tôi được biết ở hải ngoại bài này còn được đặt tên là Vàng phai mấy lá). Và bài ca cho đến mãi sau này mới được phổ biến. Tại sao vậy? Ðây là một bí mật riêng tư của tác giả. Nhưng nay anh đã thành người quá cố, những người yêu nhạc của anh thì chắc nhiều người muốn biết. Có người cho rằng bài này được làm từ năm 1955, đó là kết quả của một mối tình tuyệt vọng giữa Ðoàn Chuẩn và một danh ca thời xưa, nay còn sống ở Sài Gòn.. Có nghĩa là tác giả yêu nhưng không bao giờ được yêu lại. Bởi thế nên bài ca bị xé.

Nhưng tôi đã đem ý kiến này hỏi nhạc sĩ Lê Hoàng Long, một người bạn của anh Ðoàn Chuẩn và một vài người khác. Có người cho rằng đó là kết quả của một mối tình nồng nàn say đắm. Hồi đó anh Ðoàn Chuẩn ở Hải Phòng yêu một nữ danh ca ở Sài Gòn. Anh đã yêu cầu một hàng bán hoa ở đường Catinat, mỗi ngày đưa đến tặng nữ ca sĩ một bó hoa tươi nhưng không ghi tên người gửi. Nữ ca sĩ này không nhận và đòi phải cho biết tên. Ðoàn Chuẩn hứa là sẽ cho biết tên sau nửa tháng. Và nửa tháng sau đó Ðoàn Chuẩn đã tiết lộ tên người gửi hoa. Trong hoàn cảnh như thế ai cầm lòng cho đậu. Mối tình bắt đầu. Nhưng tiếc rằng cả hai người đều đã có gia đình nên một thời gian sau mối tình tan vỡ. Bài ca cũng đã nói lên sự “đàn trùng dây, phím lỡ”.

Bài ca không được phổ biến và bị xé vì mang nỗi đau thương như không thể nói thành lời, như một sự dỗi hờn với định mệnh. Nhưng tất cả chỉ là dự đoán. Sự thật như thế nào chỉ có ông mới biết và những người yêu nhạc Ðoàn Chuẩn bây giờ coi như một giai thoại đẹp và buồn khi vĩnh viễn chia tay với người nghệ sĩ tài hoa, người mãi mãi là một công tử, một nghệ sĩ tài tử đúng nghĩa nhất đối với tôi.



Một bài thơ của Ðoàn Chuẩn:

Khi tôi vừa viết xong bài này, nhạc sĩ Lê Hoàng Long có đưa cho tôi một bức ảnh của anh Ðoàn Chuẩn và phía sau bức ảnh có hàng chữ ghi:

“Long, Tao mời mày chén rượu đầu xuân con Rắn, và ngâm:

Em ơi! Lá có rơi ngoài muôn ngả

Thì chung quy cũng chỉ vì đất thân yêu.

Anh phong sương, mưa nắng đã hoen nhiều

Ðời nhạc sĩ có gì vui đâu em hỡi!

Anh ra đi em cũng đừng chờ đợi

Mai anh về kia nữa hoặc… chẳng bao giờ”.


30-1-1989”

Xin được gửi đến bạn đọc gọi là chút kỷ niệm của “người xưa”

Chủ Nhật, 24 tháng 7, 2011

ĐI VÀO CÕI THƠ TUỆ SĨ- Bùi Giáng


ÐI VÀO CÕI THƠ TUỆ SĨ
Văn Học và Nghệ Thuật - Văn Thơ Phật Giáo
Viết bởi Bùi Giáng

Tuệ Sỹ một vị sư. Ông viết văn quá nghiêm túc, những sở tri của ông về Phật học quả thật quảng bác vô cùng. Thấy ông vẻ người khắc khổ, không ai ngờ rằng linh hồn kia còn ẩn một nguồn thơ thâm viễn u u.... Một bữa ông đọc cho tôi nghe hai câu thơ chữ Hán của ông :

Thâm dạ phong phiêu nghiệp ảnh tùy
Hiện tiền vị liễu lạc hoa phi

Ông bảo làm sao tiếp cho hai câu để nên một bài tứ tuyệt. Tôi đề nghị với ông nên nhờ ni cô Trí Hải tiếp giùm. Ông ngượng nghịu bảo tôi đừng nên rỡn đùa như thế. Vậy tôi xin lai rai thử viết :

Thâm dạ phong phiêu nghiệp ảnh tùy
Hiện tiền vị liễu lạc hoa phi
Phiêu bồng tâm sự tân toan lệ
Trí Hải đa tàm trúc loạn ty

Và xin ông chả nên lấy thế làm bực mình.

Nhưng ai có ngờ đâu nhà sư kín đáo e dè kia, không hề bao giờ có vướng lụy, lại còn mang một nguồn thơ Việt phi phàm? Ở Một bài thơ "Không đề" của ông đủ khiến ta khiếp vía mất ăn mất ngủ :

Ðôi mắt ướt tuổi vàng khung trời hội cũ
Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ
Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn

Mới nghe bốn câu thôi, tôi đã cảm thấy lạnh buốt linh hồn, tê cóng cả cõi dạ.

Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Ðỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan
Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng
Ðếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ
Bụi đường dài gót mỏi đi quanh
Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ
Suối nguồn xa ngược nước xuôi ngàn

Tôi hoảng vía đề nghị : Ðại Sư nên gác bỏ viết sách đi. Và làm thơ tiếp nhiều cho, Nếu không thì nền thi ca Việt mất đi một thiên tài quá lớn.

Ông đáp : - Ðể về hỏi lại cô Trí Hải xem có đúng như lời thế chăng.

Ðôi mắt ướt tuổi vàng
Cung trời
Hội cũ

Xin xuống giòng thư thả như thế. Ắt nhìn thấy chất trang trọng dị thường của hoài niệm. Hoài niệm gì ? - Cung trời hội cũ.

Một hội đạp thanh ? Một hội nao nức ? - "Giờ nao nức của một thời trẻ dại ?".

Ðôi mắt ướt tuổi vàng khung trời hội cũ...

Mở lời ra, nguồn thơ trực nhập vào trung tâm cơn mộng chiêm niệm. Ðầy đủ hết mọi yếu tố bát ngát : một cung trời xán lạn bao la, một hội cũ xao xuyến, một tuổi vàng long lanh.... Một đôi mắt ướt ngậm ngùi của hiện tại.

Nhưng mạch thơ đi ngầm. Tiết nhịp âm thầm nhiếp dẫn. Thi sĩ không cần tới một hình dung từ nào cả, vẫn nói được hết mọi người đều "phải nói" với mọi người "muốn nghe" với riêng mình "không thiết chi chuyện nói".

Người thi sĩ xuất chúng xuất thần thường có phong thái khác thường đó. Họ nói tất ít mà nói rất nhiều. Họ nói rất nhiều mà chung quy hồ như chẳng thấy gì hết. Họ nói cho họ, mà như nói hết cho mọi người. Nói cho mọi người mà cơ hồ chẳng bận tâm gì tới chuyện thiên hạ nghe hay chẳng nghe. Nỗi vui, nỗi buồn của họ, dường như chẳng phi giống lối vui buồn của chúng ta. Do đó chúng ta trách móc họ một cách lệch lạc hết cả (par manque de justice interne).

Trong một cuộc vui, ta hỏi họ vài điều. Họ lơ đễnh thờ ơ, ta tưởng họ kiêu bạc. Trong lúc mọi người đang gào khóc giữa đám tang, họ phiêu nhiên đi qua, trông có vẻ như mỉm cười, niêm hoa vi tiếu. Ta tưởng họ tàn nhẫn thô bạo.

Vua Gia Long ngày xưa đã từng lấy làm quái dị về thái độ Nguyễn Du :

"Trẫm dùng người, không phân biệt kẻ Nam kẻ Bắc. Ai có tài thì trẫm trọng dụng (... ...). Cớ sao khanh lại u sầu ít nói suốt năm như thế ?".

Ông vua kia lấy làm lạ là phải lẽ lắm, hợp với lương tri thói thường thiên hạ lắm. Ông không thể hiểu vì sao vị di thần kia cứ miên man như nằm trong cõi mộng thần di, hồn dịch !

Vua đã ban cho chan hòa mưa móc, lộc trọng quyền cao đặc ân thâm hậu như thế, cớ sao Liệp Hộ chưa vừa lòng, vẫn chưa cứ thả mộng chạy lang thang về chân trời hướng khác.

Ðáp : Ấy chính bởi đôi mắt nhìn đây mà thấy những đâu đâu.

Ðôi mắt ướt tuổi vàng
Khung trời hội cũ

Ðôi mắt ướt ? Ðôi mắt của ai ? Vì sao ướt ? Vì lệ trào, hay là vì quá long lanh ?

Thi sĩ không nói rõ. Ấy là giữ một khoảng trống vắng lặng phóng nhiệm cho thơ.

Tha hồ chúng ta tự do nghĩ hai ba lối. Hoặc là đôi mắt thi nhân ướt trong hiện tại vì nhớ nhung một trời hội cũ. Hoặc là đôi mắt giai nhân nào long lanh dịu mật như nước suối chan hòa, soi bóng một khung trời hội cũ bất tuyệt nào, mà ngày nay tại hạ đã đánh mất rồi chăng ?

"Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang"

Áo nào màu xanh ? Màu xanh màu chàm của cô gái Mán gái Mường, gái núi nào xưa kia băng rừng và thi nhân đã ngẫu nhiên một lần nhìn đắm đuối ?

Tôi nói không sai sự thật mấy đâu. Vì Tuệ Sỹ vốn xưa kia ở Lào. Cha mẹ ông kiều cư trên đất Thượng Lào Trung Việt. Bà mẹ ông thỉnh thoảng cũng trở về Sài Gòn tới chùa viếng ông đem quà cho ông một đôi dép riêng biệt, một tấm khăn quàng riêng tây.

Ðôi mắt ướt tuổi vàng
Khung trời hội cũ
Áo màu xanh
Không xanh mãi
Trên đồi hoang
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ.
Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn

Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ ?

Mình là thân Bồ tát, quanh năm kinh kệ trai chay, thế sao bỗng nhiên một phút vội vã lại dám làm thân du thủ ? Dám gác bỏ kệ kinh ? Dám mở cuộc thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn ?

Phải có nhìn thấy khuôn mặt khắc khổ chân tu của Tuệ Sỹ, mới kinh hoàng vì lời nói thăm thẩm đơn sơ nọ. Lời nói như ngân lên từ đáy sâu linh hồn tiền kiếp, từ một quê hương trên thượng du bao la rừng núi gió sương canh chiều nguyệt rung rinh trong đêm lạnh.

Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Ðỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan
Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng

Mối tình rộng thả suốt biển non im lìm lạnh lẽo. Một hạt muối vẫn chưa tan. Một nếp u ẩn của lòng mình bơ vơ không gột rửa.

Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Ðỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan

Ta tưởng như nghe ra "cao cách điệu" bi hùng của một Liệp Hộ, một Nerval, một chỗ trầm thanh nhất trong cung bậc Nietzche.

Thy nhân đã mấy phen ngồi ngó trăng tàn ? Ngồi trên một đỉnh đá ? Bốn bề rừng thiêng giăng rộng ngút ngàn màu trăng xanh tiếp giáp tới chân trời xa xuôi đại hải ?

Ðỉnh đá và hạt muối là hai chốn kết tụ tinh thể của núi và biển. Ðỉnh đá quy tụ về mọi hương màu trời mây rừng rú. Hạt muối chứa chất cái lượng hải hàm của trùng dương. Ðó là cái bất tận của tâm tình dừng sững tại giữa tuết nguyệt phiêu du :

Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng

Một tiếng "buồn chăng" lơ lửng nửa như chất vấn, nửa như ngậm ngùi ta thán, dìu về cả một khúc tâm thanh đoạn trường :

Sen tàn cúc lại nở hoa
Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân
Ðếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ
Bụi đường dài gót mỏi đi quanh
Tiết nhịp lời thơ lại biến đổi :
Ðếm tóc bạc
Tuổi đời
Chưa
Ðủ
Bụi đường dài
Gót
Mỏi
Ði
Quanh

Tiết điệu rạc rời như gót mỏi đi quanh. Một tuổi đời chưa đủ ? Một tuổi xuân chưa vừa ? Một tuổi vàng sớm chấm dứt ? Một tuổi "đá" sớm từ giã mọi yêu thương ?

Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ
Suối nguồn xa
Ngược nước
Xuôi ngàn

Bài thơ dừng lại. Dư âm bất tuyệt kéo dài trong đềm lữ thư khép mình trong bốn bức tường với nhạt nhòa ủ rũ ngục tù.

Chỉ một bài thơ, Tuệ Sỹ đã trùm lấp hết chân trời mới cũ Ðường Thi Trung Hoa tới Siêu Thực Tây Phương./.

Thứ Sáu, 22 tháng 7, 2011

Phạm Công Thiện- Phan Tấn Hải


Nghĩ Về Nhà Thơ Phạm Công Thiện
Phan Tấn Hải
Nhà thơ, nhà tư tưởng, giáo sư Phạm Công Thiện, Pháp Danh Nguyên Tánh, vừa từ giã cõi thế vào ngày 8 tháng 3 năm 2011 tại Thành Phố Houston, Texas, Hoa Kỳ.
Làm thế nào để hình dung về Phạm Công Thiện? Một lần tôi đã tự hỏi mình như thế. Và ngay lập tức trước mắt tôi hiện ra một cặp kính cận dày cộm và chòm tóc trắng phất phơ... Có lẽ, nếu vẽ vài nét trên giấy kiểu tốc hoạ thì thế như dường là đủ. Không, chưa đủ. Vậy thì nghe thêm giọng nói Nam bộ đặc biệt của anh. Hay là thêm khuôn mặt tròn, và đôi mắt thơ ngây...
Nhưng tận cùng, Phạm Công Thiện là một nhà thơ và là một thiền sư – và đó là những phẩm chất rất khó hình dung, vì mỗi nhà thơ và mỗi thiền sư đều có những độc đáo riêng. Và tôi tin rằng, khi nào thân xác anh rời khỏi thế giới đời thường này, rất nhiều người sẽ gọi Phạm Công Thiện là một vị Bồ tát, một danh hiệu tôn quý trong Phật giáo và là một hạnh nguyện để chỉ một người tái sinh từ kiếp này sang kiếp khác để giúp cho mọi người hiểu được thật nghĩa của vũ trụ. Trong những năm qua, rất nhiều tăng ni Phật tử đã gọi nhà thơ Bùi Giáng là một vị Bồ tát, và tôi tin là sau này, Phạm Công Thiện cũng sẽ được tôn vinh như thế, bất chấp những đời thường bất toàn mà chúng ta đôi khi gặp nơi anh.
Thực sự, tôi đã nhìn anh như một vị Bồ tát từ những ngày tôi mới lớn, và ngay khi lần đầu đọc cuốn Ý thức mới trong văn nghệ và triết học. Lúc đó, tôi đang học lớp đệ tứ, hay đệ tam ở Chu Văn An, Sài Gòn. Bây giờ gọi là lớp 9 hay lớp 10. Đâu đó, khoảng giữa thập niên 1960. Dù là đọc ngấu nghiến, nhưng một ngày không đủ, và đọc một tuần cũng không đủ. Vì có những dòng tôi phải đọc đi đọc lại, không hoàn toàn vì tính bí hiểm triết lý, mà chỉ vì tính thơ mộng dị thường trong ngòi bút của anh. “Đi cho hết những đêm hoang vu trên mặt đất...” Thế đấy, tôi đã đi như thế từ bốn thập niên trước trên các trang sách của anh.
Tôi đã ngồi ở sân Chùa Xá Lợi, dưới các tàng cây ngọc lan và bông sứ lần giở từng trang sách đó. Và rồi lại ngồi trong một quán cà phê cách trường Chu Văn An vài mươi bước, ngay lối vào ký túc xá Minh Mạng của các anh chị sinh viên lớn. Không phải chuyện ngồi đọc cho ra vẻ triết gia, mà thực sự vì có những đoạn văn trong cuốn Ý thức mới làm tôi run rẩy cả người. Từng trang một, giữa các dòng chữ của Phạm Công Thiện toát ra một hơi lạnh của vũ trụ vô cùng vô tận. Và tuy là văn xuôi, hầu hết, nhưng thi tính vẫn dày đặc kinh ngạc.
Lúc đó, tôi chưa từng gặp anh, nhưng lại có cảm giác Phạm Công Thiện phải là một cái gì có màu xanh, phải liên hệ tới màu xanh, thí dụ xanh da trời hay xanh lá cây. Không biết tại sao, nhưng trong trí óc tôi lúc đó, là một thiếu niên say mê đọc sách và cứ nghĩ tới triết gia Phạm Công Thiện là thấy hiện lên một màu xanh. Phải màu xanh mới lạnh chứ. Vì từng trang Ý thức mới đều mang theo hơi lạnh đó. Trong đó, có hơi lạnh Đà Lạt, có sương mù Paris, có ngồi thiền trên đồi vắng, có chất vấn về triết lý với cái búa của Nietzsche, với hiện sinh Camus, và vân vân, và vân vân. Đủ thứ mà bây giờ tôi không thể nhớ hết. Cứ mở trang sách ra, là hơi lạnh của vũ trụ vô cùng vô tận lại toát ra từ các dòng chữ của anh. Bất kể lúc đó, tôi đang ngồi trong sân chùa Xá Lợi, hay vài tuần sau nữa tới la cà tại các quán cà phê trên đường Nguyễn Thiện Thuật, nơi đó có khi tôi ngồi ở quán cà phê Bình Minh và có khi bước sang kế cận ngồi ở quán Hoàng Hôn, và nơi đó cứ mỗi chiều trở về đêm là đèn đường hắt xuống màu vàng mờ nhạt làm tôi cứ ngỡ mình đang ngồi giữa Paris đọc sách.
Mới biết, văn chương mạnh như thế. Sau này, nhiều thập niên sau, khoảng đầu thập niên 1990, được cơ duyên gặp nhà thơ Phạm Công Thiện tại Quận Cam, California, tôi ngạc nhiên không hiểu vì sao thời mới lớn mình lại cứ hình dung anh ra một màu xanh. Nhớ lại mới ngạc nhiên. Đúng ra, nếu phải liên kết với màu sắc, nơi anh phải là một màu trắng. Tóc trắng một chòm, kính trắng dày cộm, đôi mắt cực kỳ ngây thơ, khuôn mặt bầu, lại thường mặc áo trắng hay màu sáng. Và toàn thân Phạm Công Thiện toát ra cả một màu trắng hồn nhiên, thơ ngây. Nhưng tới tuổi trung niên rồi, tôi không còn bận tâm chuyện màu sắc nữa, dù là người hay chữ, hay mực, hay giấy. Thêm nữa, khi đọc lại anh, tôi không còn nhiều rung động mạnh mẽ như thời mới lớn, dù là lòng tôn kính anh vẫn không mờ nhạt trong tôi.
Nếu phải giải thích, có lẽ cảm giác màu trắng sau này nhiều phần tôi có cũng từ một bài thơ của Phạm Công Thiện được nhạc sĩ Lê Uyên Phương phổ nhạc. Trong bài thơ, tôi nhớ có những câu dị thường như:

... Mười năm qua gió thổi đồi tây
Tôi long đong theo bóng chim gầy
Một sớm em về ru giấc ngủ
Bông trời bay trắng cả rừng cây...
Và nhớ nhất là mấy chữ:
... Tôi đứng trên đồi mây trổ bông...

Thực sự, gọi Phạm Công Thiện bằng “anh” là điều không phải lẽ đối với tôi, trên nguyên tắc. Vì tôi đã từng trực tiếp nghe nhiều vị danh tăng gọi Phạm Công Thiện bằng danh xưng “thầy” rất là tôn kính, trong những vị gọi như thế có những thượng toạ hiện là tác giả và dịch giả nhiều sách về Phật học. Dễ hiểu, Phạm Công Thiện đã từng dạy ở Đại học Vạn Hạnh, nơi đào tạo nhiều thế hệ tăng ni và trí thức Phật giáo.
Đứng về mặt đời thường, lý ra tôi cũng phải gọi anh là thầy. Vì thực tế, Phạm Công Thiện còn là thầy của vợ tôi – nàng kể lại rằng trong thập niên 1980 vẫn thường mỗi tuần sang Chùa Liên Hoa, trên đường Bixby, thị xã Garden Grove, Quận Cam, để nghe thầy Thiện giảng Kinh Kim Cang.
“Không hiểu gì cả, nhưng ông Phạm Công Thiện dạy hay hơn mấy thầy khác nhiều, kể cả mấy thầy ở Đại học Vạn Hạnh hồi xưa.” Đó là lời nàng kể, khi còn nhắc là năm 1974, nàng đã từng học miệt mài ở Đại học Vạn Hạnh...
Tại sao không hiểu gì hết, mà lại thấy hay? Tôi nghĩ, chỉ có Kinh Phật và thơ mới thế thôi.
Như thế, đúng ra tôi phải gọi nhà thơ Phạm Công Thiện bằng thầy. Nhưng cơ duyên lại là, lòng anh Thiện rất mực thoải mái, không nghi lễ. Và tôi lại là bạn thân của các nhà thơ Lê Giang Trần, Phạm Việt Cường... những người thân tình và thường uống rượu với anh. Nói là uống rượu nghe có vẻ trần gian lắm, nhưng phải nhìn thấy Phạm Công Thiện mới thấy là hoàn toàn không có gì gọi là trần gian nữa. Tất cả thế gian quanh anh đều thoạt hiện ra như thơ, như văn, như nhạc, như hoạ... Và cả đôi khi tôi ghé nhà Lê Giang Trần ở trong một khu mobile home chật chội, u tối, tại Santa Ana và gặp anh Phạm Công Thiện đang ngồi trong nhà Trần với chai rượu trên bàn. Tất cả thế gian đều như mộng, như huyễn, như sương rơi, như điện chớp... Sự hiện diện của anh Phạm Công Thiện như dường để nhắc tới tính vô thường đó.
Khi tôi tới Quận Cam năm 1990, anh Phạm Công Thiện đã tạm ngưng các lớp Phật học ở Chùa Liên Hoa mấy năm rồi, nhưng thỉnh thoảng tôi vẫn cơ may gặp nhà thơ dị thường này. Và nếu sau này có ai muốn biết về các chuyện đời thường của Phạm Công Thiện, tôi nghĩ rằng nhà thơ Lê Giang Trần có thể kể lại trên cả ngàn trang sách, vì cứ hễ anh Thiện về Quận Cam thì chỉ nghe về ở nhà Lê Giang Trần, một nhà thơ cũng thơ mộng lạ lùng và dị thường. Còn thì, khi nghe tin anh đi Úc, khi nghe nói anh lên ngụ ở chùa Diệu Pháp ở Los Angeles, và khi thì nghe đủ thứ địa danh trên địa cầu. Nói thế, không có nghĩa Trần là bạn đời thường của anh Thiện. Thực sự, nhà thơ Lê Giang Trần nhìn nhà thơ Phạm Công Thiện như một vị Bồ tát. Một hoá thân, không thể khác hơn được, trong mắt của Trần.
Người ta không thể hình dung hết những tôn kính mà nhiều người dành cho Phạm Công Thiện. Bất kể là anh đã từng sống rất đời thường, hệt như bao nhiêu người khác giữa phố chợ trần gian. Bất kể là anh cũng viết báo lung tung, cũng một thời tranh luận từ trước 1975 tại Sài Gòn, và rồi lại viết báo tranh luận tại Los Angeles thời 1980 sau này. Và bất kể là anh uống rượu cũng tưng bừng, cũng mấy lần vợ con, cũng thích hút thuốc lá, cũng nhiều thứ rất trần gian... Nên thấy, trong những người tôn kính Phạm Công Thiện có nhiều vị sư, có nhiều nhà thơ, và tôi tin là không thể đếm hết.
Không phải những người đó tôn kính Phạm Công Thiện chỉ vì anh từng là giáo sư Đại học Vạn Hạnh (nơi này có cả trăm giáo sư chứ), hay vì anh làm thơ hay (trước và sau anh cũng có nhiều nhà thơ xuất sắc chứ), hay vì anh đã hùng biện để bảo vệ Phật giáo (đâu có mấy ai nhớ anh đã gây lộn với ai, và về đề tài gì), hay vì anh có thể vừa mới rời một quán nhậu nơi đường Westminster là bước vào ngôi chùa đường Bixby giảng Kinh Kim Cang mà vẫn dạy hay hơn tất cả các ông sư trên đời này (có thể, nhưng chi tiết này cần phải kiểm chứng, vì các vị giảng sư chưa chắc đã đồng ý là có ai giảng Kinh này hay hơn họ), hay vì anh mỗi lần vào thư viện Mỹ là mượn ra cùng một lúc 30 cuốn về đọc tốc độ còn mau hơn các thiếu niên Sài Gòn đọc truyện võ hiệp Kim Dung (tôi tin có người còn đọc nhanh hơn), và vân vân...
Có thể vì vai trò của Phạm Công Thiện trong sự phát triển Phật giáo cũng lớn lao? Thực ra, có nhiều vị đã đóng góp cho Phật giáo nhiều hơn anh nhiều. Thí dụ, như cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám, HT Minh Châu, HT Trí Thủ, HT Thanh Từ, HT Nhất Hạnh, TT Tuệ Sỹ, GS Lê Mạnh Thát... Thực sự, Phạm Công Thiện không viết nhiều về Phật giáo.
Còn nói về các chức vụ chính thức thì Phạm Công Thiện cũng không hơn nhiều vị khác, dù anh từng là “nguyên Giáo sư Triết học Tây phương Viện Đại học Toulouse, Pháp quốc, nguyên Giáo sư Phật giáo Viện College of Buddhist Studies, Los Angeles, Hoa Kỳ, nguyên Giám đốc soạn thảo tất cả chương trình giảng dạy cho tất cả phân khoa Viện Đại học Vạn Hạnh từ năm 1966-1968, nguyên khoa trưởng phân khoa Văn học và Khoa học Nhân văn của Viện Đại học Vạn Hạnh từ năm 1968-1970, sáng lập viên và nguyên chủ trương biên tập tạp chí Tư tưởng của Viện Đại học Vạn Hạnh, 1966-1970” (theo phần chú thích trong bài “Hai vị thiền sư,” Phạm Công Thiện viết tại California ngày 18.10.1988 về TT Tuệ Sỹ và TT Trí Siêu, vị sau này thường dùng tên là GS Lê Mạnh Thát. Báo Nguồn sống số 16-17, 1989, San Jose, California).
Vậy mà, cũng như nhà thơ Lê Giang Trần nói trên, tôi tin Phạm Công Thiện phải là một kiểu hoá thân Bồ tát. Nếu Tây Tạng có các hoá thân Đạt Lai Lạt Ma, Ban Thiền Lạt Ma, Karmapa, Rinpoche, vân vân... thì Việt Nam mình ngay trong thời này cũng có các hoá thân Bồ tát như các nhà thơ Tuệ Sỹ, Bùi Giáng, Phạm Công Thiện... Bạn không tin? Hãy hỏi các vị sư Sài Gòn ở thế hệ trung niên trở lên, như dường cũng có nhiều vị sư chia sẻ niềm tin như thế.
Còn nói theo kiểu bây giờ, thì Phạm Công Thiện đã xuất hiện trong Phật giáo một cách “rất là ấn tượng.” Chuyện Phạm Công Thiện trở thành nhà sư Thích Nguyên Tánh thì cũng có nhiều người biết, và vẫn được truyền tụng hoài. Nhưng nơi đây, để nghe tận nguồn, chúng ta hãy nghe nhà thơ Quách Tấn kể lại, trong “Hồi ký về thượng toạ Thích Trí Thủ” (http://www.phatviet.com/vanhoc/vh008.htm), khi giới thiệu anh Thiện với thượng toạ Trí Thủ (lúc giữ chức Giám viện Phật học Viện Hải Đức, nơi thi sĩ Quách Tấn dạy các tăng ni môn quốc văn), trích:
Khoảng đầu năm 1964, Phạm Công Thiện bị khủng hoảng tinh thần, ở Mỹ Tho ra Nha Trang an dưỡng. Lên chơi chùa Hải Đức, Thiện ước được sống trong cảnh u tịch trong ít lâu để lấy lại sức khỏe. Tôi liền đến xin thượng toạ, và tỏ thật rằng Thiện là một thiên tài và là người Cơ Đốc giáo, mọi người trong chùa tỏ ý không bằng lòng. Thượng toạ cười:
“Không hề gì, có bác Quách bảo đảm.”
Nhưng để “đề phòng”, thượng toạ cho dọn một căn phòng dưới xưởng làm hương để Thiện ở, trưa chiều lên chùa ăn cơm.
Được nơi ăn chốn ở vừa ý, Thiện bảo tôi:
“Để đền ơn ông, tôi xin hẹn trong sáu tháng sẽ đọc và hiểu được kinh chữ Hán.”
Tôi không dám tin, nhưng cũng không dám ngờ.
Ở Trại Thuỷ, cả ngày Thiện nằm đọc sách. Thỉnh thoảng tôi đến thăm Thiện và thượng toạ Trí Thủ. Một hôm thượng toạ bảo tôi:
“Anh chàng có đạo tâm.”
Tôi cười thầm trong bụng: “Đạo Thiên Chúa hay đạo Phật.”
Ba tháng sau, tôi lên Hải Đức, không thấy Thiện nơi xưởng hương. Hỏi người làm hương trong xưởng cho biết rằng thượng toạ Trí Thủ đem anh lên ở nơi cốc của thượng toạ hơn một tháng rồi.
Tôi bèn leo dốc lên cốc: một nhà sư trẻ đang ngồi xếp bằng ngay ngắn, mắt lim dim trên chiếc ghế dài nơi cốc. Nhìn kỹ thì là Phạm Công Thiện! Rõ là một nhà sư 100 phần trăm. Thiện ngồi yên, tôi lẳng lặng đi vào cốc. Thượng toạ Trí Thủ mừng rỡ, muốn gọi Thiện. Tôi “xin đừng”. Sau mấy câu hàn ôn như thường lệ, thượng toạ nói:
“Thiện quy y với tôi rồi, tôi đặt cho pháp danh là Nguyên Tánh."
Tôi không tỏ ý tán thành cũng không tỏ ý phản đối. Đối với Thiện quy y cũng thế mà không quy y vẫn thế.
Mấy tháng sau – tháng 9 năm 1964. Tôi lên Hải Đức một lần nữa. Cốc đóng — người trong chùa cho biết thượng toạ cùng Thiện vào Sài Gòn, còn lâu mới về. Tôi cảm thấy bùi ngùi như nhớ nhung, như thương tiếc.
Tôi ngẫu chiếm một tuyệt:
Lịu địu
Áo giũ ngày sương gió
Lên chùa thăm cố nhân
Non nghiêng thềm nắng xế
Lịu địu bóng nhàn vân.
Sau nghe tin Thiện dạy học ở Đại học Vạn Hạnh, rồi đi Mỹ, đi Pháp. Còn thượng toạ Thích Trí Thủ thì trụ trì chùa Già Lam, rồi được phong hoà thượng, thỉnh thoảng mới về Nha Trang thăm chùa cũ và nghỉ ngơi. Thiện thì từ ngày từ giã Nha Trang, tôi không còn gặp lại...”
Bây giờ Phạm Công Thiện không viết nhiều như ngày xưa nữa. Những cuốn sách gần đây đa số là viết về Phật A Di Đà và Bồ tát Quan Thế Âm. Từ lâu, anh cũng không làm thơ nhiều nữa. Những tác phẩm thời trẻ của anh, khoảng hơn hai mươi cuốn, còn được quần chúng nhớ đặc biệt là vài cuốn, như: Tiểu luận về Bồ Đề Đạt Ma, tổ sư Thiền tông (1964), Ý thức mới trong văn nghệ và triết học (1965), Ngày sanh của rắn (1967)... Cuốn được nhớ tên nhất tại hải ngoại của Phạm Công Thiện, có lẽ là cuốn Đi cho hết một đêm hoang vu trên mặt đất (1988)...
Nhưng đêm hoang vu của anh vẫn chưa hết, cho nên vẫn thấy anh đi liên tục. Để theo dõi bước đi một đoạn đời của anh, hãy trích một chút sau đây từ cuốn Những bước chân nhẹ nhàng trở về sự im lặng của Phạm Công Thiện, xuất bản 1994 tại Los Angeles, từ Lời nói đầu:
“Quyển sách này được viết chậm rãi thong dong từ trên 10 năm nay, từ năm 1983 tại Los Angeles và tại những vùng phụ cận Los Angeles, California, Hoa Kỳ. Từ năm 1970 cho đến 1983, tôi đã sống ở Do Thái, rồi ở Đức quốc và ở lâu dài tại Pháp quốc; đến năm 1983, qua một cơn chuyển động toàn diện của tâm thức viễn ly, tôi đã trở lại Hoa Kỳ, trở lại thành phố Los Angeles sau một thời gian xa vắng gần 20 năm; từ năm 1983 cho đến năm 1994, trên 11 năm nay, lại qua nhiều cơn chuyển động toàn diện liên tục của tâm thức viễn ly, tôi vẫn tiếp tục sống ở thành phố Los Angeles; sau vài chuyến lui về vùng đồi núi im lặng ở Úc châu, tôi vẫn trở lại thành phố Los Angeles như trở về tập sống hồn nhiên tự tại với những cơn động đất thường xuyên của đời mình...”
Bây giờ Phạm Công Thiện vẫn còn đi. Và đôi khi vẫn còn viết – như một nghiệp tiền định của anh.
Nếu bạn nhớ rằng Phạm Công Thiện sinh năm 1941 thì mới kinh ngạc, khi biết rằng anh in cuốn Tiểu luận về Bồ Đề Đạt Ma năm 1964, nghĩa là khi mới 23 tuổi. Nơi đây, chúng ta không nói chuyện cuốn sách anh viết đã có giúp gì cho ai về mặt giác ngộ hay không (chuyện này, khó có thước đo), nhưng chỉ nói về đề tài để khảo sát, suy nghĩ và viết xuống thì đã là một điều hết sức dị thường. Tôi từng đọc rằng khi anh còn ở tuổi vị thành niên, anh đã soạn một cuốn Tự điển Anh ngữ tinh âm, nhưng vì tôi chưa bao giờ đọc cuốn này cho nên không dám bàn. Nhưng ở tuổi 23, mà anh viết sách Thiền tông thì phải có một tâm hồn rất mực thơ mộng, một khát khao trí tuệ rất mực mãnh liệt, dù là, đối với Thiền tông, đúng hay sai và mê hay ngộ cũng là chuyện rất mực khó dò...
Nhưng vì sao một người đời thường lại được cả các tăng ni tôn kính? Mà người đời thường này, anh Phạm Công Thiện, lại không hề biết cách kiếm tiền... Tôi nghĩ, nhiều phần là trong các kiếp trước, Phạm Công Thiện đã từng là thầy, từng là bậc tôn túc của các vị tăng ni kia, và của nhiều cư sĩ đời thường như tôi...
Và tôi tin rằng, khi Thiền sư Thi sĩ Phạm Công Thiện từ trần, chắc chắn sẽ có rất nhiều người gọi anh là Bồ tát, một danh hiệu rất mực tôn kính trong nhà Phật, chỉ đứng sau danh hiệu Đức Phật. Tại sao như thế? Tôi không thể trả lời chính xác. Nhưng nhà thơ Bùi Giáng đã được tôn xưng là Bồ tát, và tôi tin, chắc chắn rằng Phạm Công Thiện cũng sẽ được tôn xưng như thế. Thêm nữa, Kinh Pháp Hoa cũng viết rằng tất cả mọi người đều là Phật – và bây giờ nhiều người trong chúng ta đã quen thuộc với cách Phật giáo Tây Tạng gọi ngài Đạt Lai Lạt Ma là Bồ tát Quan Thế Âm, gọi ngài Ban Thiền Lạt Ma là Phật A Di Đà hoá thân...
Để trả lời cho bớt vẻ thần bí hơn, có lẽ nên nói rằng nhà thơ Phạm Công Thiện đã đánh thức được nơi rất nhiều người niềm say đắm với cuộc đời. Bất kể là nhân loại thường trực đối diện với biết bao nhiêu là hố thẳm và hoang vu, chính niềm say đắm này đã và đang dẫn chúng ta đi qua biết bao nhiêu là ngọn đồi mây trắng...

Thứ Hai, 11 tháng 7, 2011

Bàn về cái thiêng liêng- Lê Phú Khải

11/07/2011
Bàn về cái thiêng liêng

Lê Phú Khải

Ngày nhỏ đi học lớp 1, lớp 2... cứ mỗi lần được thầy giáo kêu lên bục xóa bảng, hoặc sai đi giặt khăn lau bảng là tôi sung sướng suốt cả ngày hôm đó. Thầy giáo nhớ tên mình, gọi tên mình... Chao ôi là vinh hạnh!

Có lần đi dự đám cưới một người chị họ, tôi gặp thầy giáo cùng đến dự đám cưới. Dù là đứa trẻ vốn tính tình nhút nhát, tôi đã rẽ đám đông đến trước mặt thầy, khoanh tay lễ phép chào: Con chào thầy ạ! Thầy giáo xoa đầu tôi trước hai họ. Tôi hãnh diện vô cùng!

Đã hơn nữa thế kỷ đi qua, vậy mà đến giờ tôi vẫn nhớ cái buổi chiều hôm đó, nhớ như in cái cầu thang mà tôi đã vội leo lên thành cầu để tụt xuống, len đến trước mặt thầy tôi...

Trong con mắt trẻ thơ của tôi, thầy giáo thiêng liêng lắm. Thầy Mạnh Tử ở bên Tàu hơn hai ngàn năm trước từng nói: “Cái phong phú được gọi là cái đẹp”, “Cái cao cả được gọi là cái thiêng liêng” là gì? Vậy thầy giáo của tôi ngày ấy là một người cao cả, vì cao cả nên thầy thật thiêng liêng với học trò.

Thế mà bây giờ thằng cháu nội của tôi lại bĩu môi nói với ông nội nó: Cô giáo của con mới mua xe Attila đó (!). Tôi hiểu ý nó muốn nói: Xe Attila mới mua của cô giáo là tiền bố mẹ nó phải oằn lưng ra đóng góp cho con học thêm, cô giáo bắt nó và bạn bè của nó phải học thêm để cô giáo thâu tiền...

Có lần tôi đã mắng mẹ nó, vì sao cứ phải cho con đi học thêm, trong khi nhà thì túng thiếu. Mẹ nó phân trần: Thằng T (tên thằng cháu tôi) nó bảo, nếu không đi học thêm, cô giáo sẽ tấn công nó trong lớp học. Tôi hỏi: Tấn công là thế nào? Mẹ nó trả lời: Là bắt lên bảng làm toán, rồi đe nẹt, thằng T sợ lắm, khóc đòi mẹ cho đi học thêm. Vì những đứa học thêm không bị cô giáo đối xử như thế. Chữ “tấn công” là từ miệng thằng cháu nội tôi nói ra!

Cô giáo đã hết cao cả thì làm sao còn thiêng liêng được? Một thế hệ con trẻ đi học không có cảm nhận về cái thiêng liêng, lại thấy thầy cô giáo của mình là những kẻ thấp hèn, khi nói đến thầy cô mà bĩu môi ra thì còn gì để nói (!).

Kinh khủng hơn, một lần ngồi ở quán cà phê trước một trường đại học, tôi thấy một số sinh viên gọi thầy giáo là thằng này, thằng kia! Tôi đem câu chuyện này về hỏi thằng con tôi đang theo học một lớp đại học tại chức. Nó giải thích: vì sinh viên phải chung tiền cho thầy giáo mỗi lần thi cử, phải rủ thầy đi nhậu... nên nó xưng hô như thế đó ba ạ!

Chuyện về sự suy thoái của nền giáo dục Việt Nam còn nhiều lắm, nhưng chuyện của ngành y tế thì còn tàn nhẫn hơn. Vừa qua, tại Năm Căn tỉnh Cà Mau, nhân dân đã kéo đến đập phá, đuổi đánh các thầy thuốc ở bệnh viện vì cho rằng họ đã bỏ mặc một bệnh nhân gái 16 tuổi được chở đến cấp cứu, dù gia đình nạn nhân này đã quỳ xuống lạy van, xin các bậc lương y này cứu chữa. Em gái đã chết ở bệnh viện. Khi người dân phẫn nộ kéo tới thì các vị “thầy thuốc như mẹ hiền” này đã hốt hoảng cởi bỏ hết áo trắng trên người để chạy trốn như những lũ chuột bị rắn đuổi!

Có lẽ trong lịch sử ngành y thế giới, chưa có ở đâu diễn ra màn bi kịch kiểu này. Chủ nghĩa “duy lợi” (từ của Hà Sĩ Phu) của ông Marx không có đất sống ở trời Tây, có lẽ vì thế nó vội di trú đến những mảnh đất rừng rú còn sót lại ở Châu Á để nương thân, và Việt Nam là một trong những điểm dừng chân của nó. Tất cả được tính ra “lợi quyền”, lợi lộc, không còn cái gì là thiêng liêng nữa, dù là làm nghề thầy – thầy giáo, thầy thuốc...

Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện hồi còn sống, có lần đã kể cho tôi nghe về tư cách người thầy thuốc. Ông cho biết, ở Pháp, thầy thuốc chỉ được khám bệnh, cho toa (đơn)... không bao giờ được phép chìa tay ra cầm tiền của bệnh nhân. Tiền khám bệnh sẽ được người nhà của bác sĩ thu ở chỗ khác, khi bệnh nhân ra về. Ông giải thích: Nếu bác sĩ cầm tiền từ tay bệnh nhân thì về tâm lý, hình ảnh của thầy thuốc “cứu nhân độ thế” hết thiêng mất rồi. Khi người bệnh đến với thầy thuốc, thì tâm trạng của họ đến với một vị cứu nhân, người đó sẽ đem hết tinh thần cao cả của người thầy thuốc để cứu họ. Chỉ riêng tâm trạng đó đã là liều thuốc tinh thần để người bệnh tự giúp mình khỏi bệnh đến 50%. Vì thế các trường đào tạo thầy thuốc ở Pháp giảng dạy rất kỹ lưỡng rằng, không được để đồng tiền xuất hiện giữa thầy thuốc và bệnh nhân. Dù rằng thầy thuốc vẫn cần tiền để tồn tại.

Vậy mà ở tỉnh X, thầy thuốc bán thuốc cho bệnh nhân. Thuốc còn được nghiền nát ra để bệnh nhân không biết đó là thuốc gì, ở đâu sản xuất... để bệnh nhân không thể so đo đắt rẻ...

Chỉ có hai nghề cao quý được ông bà ta kêu bằng “thầy”.

Dắt đứa con đến cửa nhà thầy, người mẹ ngày xưa nói: Đến ăn mày thầy dăm chữ để cháu làm người!

Ôi sao mà thiêng liêng quá!

Bây giờ cả thầy giáo và thầy thuốc đều lấy học trò và bệnh nhân làm đối tượng để làm tiền thì cái thiêng liêng không cánh mà bay khỏi cái xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam mất rồi! Chỉ còn lại sự dối trá vô lương đến lộng lẫy “thiêng liêng” mà thôi!

L.P.K.

Thứ Bảy, 2 tháng 7, 2011

MƯỜI NĂM TRỊNH CÔNG SƠN- CAO HUY THUẦN


Dưới đây, chúng tôi trích đăng 5 lời giới thiệu ngắn viết cho chương trình đêm hát của anh Cao Huy Thuần. Huế và Khánh Ly là trọng tâm của các lời giới thiệu.


Lời 1: Tiếng hát Khánh Ly

Thưa Quý Vị,
Thưa các anh chị,

Tôi rất hân hạnh đã được nhiều lần gặp gỡ các anh chị để cùng nhau chia sẻ cảm tình chung đối với TCS. Với thời gian và tuổi tác, đáng lẽ tôi không nên lên sân khấu nữa. Vậy mà lại cũng phải lên, lần này không phải chỉ vì TCS. Chính là vì Khánh Ly.

Cho đến hôm qua, tôi chưa bao giờ gặp Khánh Ly. Nhưng, với Khánh Ly, đâu có cần gặp mới quen. Giữa chị, và công chúng yêu mến chị, không phải chỉ có giọng hát. Còn có cả một chiều sâu lịch sử. Một lịch sử oai hùng. Một lịch sử thương đau. Một lịch sử Điện Biên. Một lịch sử Plei Me, Chu Prong. Một lịch sử đầy tình ca, kể cả tình ca người mất trí. Một lịch sử vang vọng tiếng ru, kể cả đại bác ru đêm. Lịch sử đó nằm không phai trong tim. Cho nên trong tim ai cũng có Khánh Ly.

Đối với riêng tôi, hơn thế nữa, Khánh Ly không phải chỉ là giọng hát lịch sử. Chị còn là người viết văn. Chị viết văn rất hay. Nhiều lần tôi tự hỏi : tôi cảm động vì chị, không biết có phải vì giọng hát hay vì lời văn. Tôi nói thế, không phải là để bốc chị lên thành văn sĩ. Tôi nói, là vì một ý nghĩ mà tôi chắc không sai : phải là một người biết vui buồn với cây bút mới thấm được lời ca của TCS và mới truyền được cái chất thơ ấy qua giọng hát. Có thể mỗi người mê giọng hát của Khánh Ly một cách khác nhau. Nhưng chắc ai cũng thấy giọng hát của chị đặc biệt ở một chỗ bí truyền của TCS : chị hát rất rõ lời, mỗi chữ là mỗi tiếng sỏi rơi vào hồ nước. Giọng hát ấy và lời thơ ấy gặp nhau, đâu có phải chỉ vì chị là ca sĩ ? Đâu có phải tình cờ ? Ấy còn là văn chương gặp văn chương.

Tôi còn thêm một lý do nữa để cảm nhận thấm thía giọng hát của Khánh Ly. TCS là người duy nhất lên sân khấu với giọng Huế. Có lẽ tôi là người thứ hai, nhưng may cho các anh chị là tôi không hát. Huế là nguồn cảm hứng bất tận của TCS, là mẹ, là người yêu, là mơ mộng, là chiếc nôi. Mỗi chữ của TCS đều là Huế. Cho nên phải thấm cái chất Huế đó của TCS mới giao hoan được với lời hát của anh. Mà Khánh Ly … Có lẽ kiếp trước chị lọt lòng đâu đó ở Huế cho nên kiếp này chị mới tình tự được với Huế như thế này :

"Tôi là gái Bắc, lớn lên ở Sài Gòn, nhưng lạ lùng làm sao, tôi không nhớ Hà Nội bao nhiêu, không yêu Sài Gòn lắm. Mà chỉ xót xa đến Huế … Vậy mà tôi yêu Huế … Dù tôi chỉ biết Huế sau Tết Mậu Thân và không quá mười lần ghé Huế. Nhưng tôi yêu Huế bởi vì từ Huế tôi mới biết thế nào là tình yêu."

Các anh chị thân mến, nhan đề của đêm hát hôm nay là "Mười năm với TCS". Tôi nghĩ : không ai với TCS bằng Khánh Ly. Họ đã hòa quyện với nhau trong tiếng hát. Họ đã cùng hiến hai cuộc đời thanh xuân của nhau để cùng tạo dựng chung huyền sử của một thời đại, trong đó cái chết và tình yêu là hai nhân vật không rời nhau - chết trần truồng mình không manh áo nhưng nằm chết như mơ.

Chất thơ, chất Huế, cái chết, tình yêu … Khánh Ly sẽ mang lại cho chúng ta tất cả không khí đó, bắt đầu bằng mưa Huế trong ba bài mưa. Mưa Huế là mưa dầm, nhưng mưa Huế trong TCS không phải vậy, đôi khi là mưa hồng, vì mưa ươm nắng, đôi khi là mưa bốn mùa, và không phải do ý trời mà do mệnh lệnh của Người - của một Người mang cái tên duy nhất trong TCS là Em.


Lời 2: Bàn chân dưới mưa

Khi nãy, tôi vừa nói với các anh chị rằng tôi rất lấy làm tiếc cho các anh chị là tôi sẽ không hát. Không hát thì đọc vậy. Lời của TCS hát cũng hay mà đọc cũng hay. Tôi xin đọc một bài để làm ví dụ : bài "Cho đời chút ơn". Tôi đọc một đoạn nhỏ, đoạn TCS ngắm một người đẹp đi bên kia phố. Anh thấy anh đi theo, theo từng gót chân, như chiếc lá bay theo, như giọt nắng bay theo :

Tôi tìm thấy tôi như giọt nắng kia
Làm hồng chút môi cho em nhờ.
Môi thiên đường / Hót chim khuyên
Ôi tóc trầm / Ướp vai thơm
Ta nghe đời / Rất mênh mông
Trong chân người / Bước chầm chậm.

Một bài hát ca tụng người đẹp. Ai cho đời chút ơn ? Những người con gái xinh đẹp. Ơn gì ? Mang lại cái đẹp cho cuộc đời, như mùa xuân đem mơn mởn cho vũ trụ.

Bài hát là một bức tranh vẽ người đẹp tiêu biểu trong TCS. Có môi, mà lại là "môi thiên đường". Có tóc, có vai, vai đã thơm mà còn được ướp thêm mùi trầm của tóc. Có tà áo phơn phớt nắng bình minh. Cả người là phấn thơm, thơm cả khu rừng. Nhưng … nhưng … tất cả những cái đẹp đó đều quỳ xuống để muôn tâu một nhan sắc chỉ riêng có trong TCS : hai bàn chân. Người đẹp trong TCS là đẹp ở bàn chân. Bởi vì, trong bước chân ấy, ngự giá một cái đẹp lạ lùng. Cái gì ? Cái "chầm chậm". "Dù em khẽ bước không thành tiếng / Cõi đời bao la vẫn ngân dài". Người con gái bước đi chầm chậm để mang trong hai bàn chân tất cả "mênh mông" của cõi đời.

Tôi không dám nói đây là bức tranh Huế ngày xưa - nghĩa là của thời TCS, thời chúng tôi. Thế nhưng có một người cứ thành khẩn quả quyết đó là bức tranh Huế. Người đó là Khánh Ly. Tôi lại đọc Khánh Ly :

GS. Cao Huy Thuần (trước) và ca sĩ Khánh Ly (sau)

"… Vậy mà tôi yêu Huế. Con gái Huế nói như hát, dịu dàng, đi đứng khép nép, nhẹ nhàng. Có một cái gì đó thật mong manh, như tơ, như sương khói, như một điều không có thật trong con người của các cô gái Huế. Tôi có cảm tưởng như họ không phải là một sự hiện hữu. Một chút hương khói hư ảo, chập chờn. Chỉ một tiếng động khẽ, dù là tiếng rơi của một chiếc lá, cũng đủ làm tan biến đi tất cả … Như thế là yêu đấy, mà lại yêu nhiều mới khổ chứ".

Không phải cô gái Huế nào cũng vậy, anh chị đừng lầm mà bán nhà. Nhưng đúng đó là mẫu người đẹp trong TCS. TCS vẽ người đẹp, tương đối ít khi vẽ môi. Có : "Nắng có hồng bằng đôi môi em / Nắng có còn hờn ghen môi em". Có : "Một hồn yếu đuối / một bờ môi thơm". Có : "Môi em cho ta một cánh hồng / Lụa là phút ấy chưa quên". Có, kể cả những "môi đốm lửa", "môi lửa cháy", "môi rồ dại" chen lẫn với "môi hồng nhạt", "môi hồng đào". Có, nhưng lạ quá, thi sĩ của tình yêu gì mà ít khi cho người ta hôn nhau. Mà hễ hôn là hôn rất bi thảm : "Có chút lệ nhòa / Trong phút hôn nhau". Hôn, là lúc bắt đầu và cũng là lúc chấm dứt tình yêu. Bởi vì, "đã có nghìn trùng / trên môi người tình / đã dấu nụ tàn / bên trong nụ hồng / có chớm lạnh lùng / trên môi nồng nàn". Cho nên, môi ấy, khi hôn nhau lần đầu đã thấm mùi vị của hôn nhau lần cuối. "Đời sẽ buồn như một chiều nao / Hôn nhau lần cuối hôn nhau lần đầu. Đời sẽ là chưa vội tình sâu / Hôn nhau lần cuối hôn nhau lần đầu".

Đôi môi không phải là vương quốc trong tranh TCS. Thua cả vai gầy. Thua cả mắt xanh xao. Thua cả bàn tay, "bàn tay trau chuốt cho thêm ngàn năm". Thua cả năm ngón tay, năm ngón tay "xuân nồng", "năm ngón tay thiên thần ru vào cô đơn". Và thua xa, tất nhiên thua xa, làm sao sánh được, với đôi bàn chân ! TCS đem ngai vàng từ trên đôi môi của thiên hạ xuống dâng cho hai bàn chân không bao giờ vội vàng. Không bao giờ vội vàng, vì lúc nào cũng như thầm thì nói chuyện. Nhất là nói chuyện với mưa, "mưa thì thầm dưới chân ngà". Đó là bàn chân dưới mưa của Diễm trong Diễm Xưa, mà Khánh Ly đã từng ca tụng với tất cả thần cảm của một tâm hồn thấm hiểu điệu vui, điệu buồn, điệu lãng mạn, điệu nhớ nhung của mưa Huế, điệu liêu trai nơi nét đẹp mà TCS gọi là nét đẹp hoàng cung.


Lời 3: Dù đến rồi đi

Khi nãy, tôi đã nói về bàn chân như là hoàng hậu của tất cả nhan sắc. Bây giờ, tôi xin nói thêm : bàn chân và bước chân là linh hồn trong những bài hát hay nhất của TCS. Chẳng hạn bài "Tình Nhớ" :

Những bước chân mềm mại / Đã đi vào cuộc đời /
Như từng viên đá cuội / Rớt vào lòng biển khơi.

TCS đã dùng bàn chân để nói về tình yêu. Bởi vì bàn chân là để đi. Mà đi, có thể là đi xa, cũng có thể là đến gần. Đến gần, rồi đi xa : thế là tình yêu. Bàn chân là bước đi của tình yêu, là tình yêu được linh hồn hóa.

Bên nhà vừa in một cuốn sách với mấy trăm bức thư tình của TCS. Đọc thì cũng vui vui, nhưng đối với một người nghệ sĩ, con người thực không phải là con người xương thịt, mà là con người trong sáng tác. Họ khóc cười trong sáng tác. Họ thở than trong sáng tác. Và họ yêu trong sáng tác. Thư riêng của TCS có thể làm cho người đọc hiểu thêm chút nào về tâm trạng của TCS trong một quãng thời gian nào đó, nhưng đó chỉ là tình yêu của TCS đối với một người, không phải là tình yêu nói chung. Khi nói rằng TCS là thi sĩ của tình yêu thì chỉ có một TCS ấy thôi, là TCS trong những bài hát. Và trong những bài hát thì tình yêu là vậy đó, không có tên của một người con gái nào, chỉ có những bước chân, những bước chân của đi và của đến, phần nhiều là của đến và của đi.

Tôi lại xin đọc một bài, một bài hay, rất đơn giản và rất hay, bài "Hoa vàng Mấy Độ" :

Đây là đến : "Em đến bên đời / Hoa vàng một đóa / Một thoáng hương bay / Bên trời phố hạ / Nào có ai hay / Ta gặp tình cờ".

Và đây là đi : "Em đến nơi này / Bao điều chưa nói / Lặng lẽ chia xa / Sao lòng quá vội / Một cõi bao la / Ta về ngậm ngùi".

Một người đi, một người về. Và đây là nhớ nhung đau buốt của người về : "Trong lòng nỗi nhớ / Ngày tháng trôi qua / Cơn đau mịt mù ".

Còn gì lại sau cuộc đến và cuộc đi ? "Một vết thương thôi / Riêng cho một người".

Tình yêu là vậy thôi, cực kỳ đơn giản. Là vậy thôi, một bước chân. "Ngày nào vừa đến / Đã xa muôn trùng / Ngày nào vừa đi / Lạnh lùng bước chân".

Trong những bước chân đó, có những bước chân rất tàn nhẫn. Đó là bước chân phụ bạc :

"Hai mươi năm xin trả nợ dài / Trả nợ một đời em đã phụ tôi
Em phụ tôi một thời bé dại / Thơ dại ra đi không nhớ gì tôi
Thơ dại ra đi quên hết tình tôi".

Có những bước chân tàn nhẫn hơn nữa. Đó là bước chân gian dối :

"Tình khâu môi cười / Hình hài xưa đã thay / Mặn nồng xưa cũng phai /
Tình chia nhau gian dối / Tình đày tình đôi nơi".

Tình yêu là vậy, trong TCS của chúng ta. Bao giờ cũng vậy, "Từ lúc đưa em về / Là biết xa nghìn trùng".

Vậy thì kết luận là thế nào trong cuộc chơi mà một người đã để lại vết thương cho một người? Một lời nói đã bay trong gió ? Một "tuổi đá buồn" ngồi lại làm đá ngây ngô ?

Giải pháp thông thường nhất là quên. Nhưng đâu có dễ quên ?

"Tình ngỡ đã quên đi / Như lòng cố lạnh lùng
Người ngỡ đã đi xa / Nhưng người vẫn quanh đây".

Quên không được, mà nhớ thì khổ. Chỉ có một môn thuốc thần này mà thôi, tôi nghĩ chúng ta nên bắt chước TCS : hãy "tạ ơn". Tạ ơn những bước chân đến. Tạ ơn cả những bước chân đi. Dù phụ bạc. Dù gian dối :

"Dù đến rồi đi / tôi cũng xin / tạ ơn người / tạ ơn đời /
Tạ ơn ai / đã cho tôi / tình sáng ngời / như sao xuống từ trời"

Từ đó mà ai hát TCS cũng thấy trong tiếng hát một con người nhân ái, nhân hậu, độ lượng. Dù em phụ bạc, tôi vẫn ru em ngàn năm, ngàn năm, như Khánh Ly sẽ ru với "Tuổi đá buồn", "ngàn năm ngàn năm, ru em muộn phiền ru em bạc lòng". TCS yêu cuộc đời, nhưng cũng biết cuộc đời là ảo tưởng. TCS yêu tình yêu, nhưng cũng biết tình yêu là ảo tưởng, có đấy rồi không đấy. Chỉ có một tình yêu bất tận mà thôi, có đến và không hề đi : đó là tình yêu nghệ thuật. Tình yêu đó đã khiến TCS viết được câu máu thịt thế này : "Khánh Ly, một người bạn của định mệnh, vĩnh viễn thương yêu nhau".

Lời 4: Vũ trường và đại bác

Năm 1965, TCS đã thấy những dấu vết đầu tiên của chiến tranh nơi thành phố : xác chết phơi ven đường, phụ nữ đi tìm xác, trực thăng chở thương binh, thanh niên chạy trốn lính … Anh bắt đầu trực nhận và viết ra những "phi lý", "vô nghĩa", "vô lý cùng cực" của chiến tranh. Bài "Xin Mặt Trời Ngủ Yên" được hát vào năm đó, mang một chút hơi hướng của chinh chiến vào lời ca :

"Ôi chinh chiến đã mang đi bạn bè / Ngựa hồng đã mỏi vó / Chết trên đồi quê hương /
Ôi quê hương thần thoại / Thuở hồng hoang đã thấy / đã xanh ngời liêu trai".

Chinh chiến sẽ đưa quê hương vào thuở hồng hoang ? Câu hát chưa rõ nghĩa lắm. Nhưng câu sau đã bắt đầu nói lên nhân tính trước nguy cơ hủy diệt :

"Ôi nhân loại / mặt trời / và em thôi / này đôi môi xin thương người /
Ôi nhân loại / mặt trời trong tôi".

Một ly kỳ của "văn hóa" Sài Gòn ngày xưa : bài hát có mùi thuốc súng lại được phổ biến lúc đầu trong các vũ trường. Tôi vinh danh sự ly kỳ lịch sử đó ở đây, vì chính trong thế giới vũ trường mà TCS bắt gặp tiếng hát của định mệnh để đưa tiếng hát đó chào đời với Ca Khúc Da Vàng.

Đó là năm 1965, TCS 26 tuổi, đang yêu và được yêu, đang là một con đôm đốm mời được một ngôi sao xuống đất để cùng mình thắp sáng cả địa cầu. Nhưng chuyện thần tiên của con đôm đốm với ngôi sao bao giờ cũng kết thúc vào buổi sáng mai : sao bay lên trời và đôm đốm trần truồng sâu đất. TCS mang tuyệt vọng vào vũ trường và ở đấy anh gặp tiếng hát. Giá như chiến tranh không ập tới, không chừng TCS cứ mãi ướt mi với những Mỵ Nương. Nhưng chiến tranh đã nâng tầm vóc của anh lên cao, đã biến tình ca của anh thành thánh ca của hòa bình, đã làm con đôm đốm thành TCS.

Tiếng hát bắt gặp cùng lúc với chiến tranh là Khánh Ly. Đêm 20-3-1965, ở Đà Lạt, anh ngồi nghe Khánh Ly hát một bài ướt đẫm lãng mạn, rất nổi tiếng ở Việt Nam hồi đó, bài "Et j'entends siffler le train". Đó là một trong hai bài hát đã làm TCS thổn thức canh trường trong suốt một quãng đời thơ dại, "thơ dại ra đi không nhớ gì tôi".

Bài hát kia, cũng đầm đìa nước mắt, là bài "J'irai pleurer sous la pluie". Trong bài hát, có anh chàng si tình, chờ mưa để đứng dưới mưa mà khóc. Tại sao phải khóc dưới mưa ? Tại vì để giấu nước mắt. Tôi dịch bài hát để các anh chị hiểu và sống lại cái thời lãng mạn của TCS ngày xưa, nghĩa là của chúng ta, cái thời mà ai cũng đã từng "lên xe tiễn em đi" và "khóc đi em, khóc đi em, khóc đi em" :

Nếu anh muốn khóc
Anh sẽ giấu em
Vì anh tự phụ
Không muốn em thấy
Giọt buồn đời anh
Dưới mưa anh khóc.

Anh đợi mưa đến
Anh đợi cơn giông
Nước mắt nước mưa
Dưới mưa anh khóc.

Anh vẫn yêu em
Nhưng em đâu thấy
Giọt buồn đời anh
Dưới mưa anh khóc.

Mưa rơi trên mặt
Nhưng đâu xóa được
Kỷ niệm của em
Em đâu biết anh
Yêu em tha thiết
Em đâu biết em
Làm khổ đời anh.

Nhưng anh sẽ đi
Cười vui trong nắng
Mặt trời tháng năm.
Ngày ấy thương ôi
Bây giờ chưa đến.
Số phận đời anh
Còn trong tay em

Và anh sẽ chờ
Dưới mưa anh khóc.

Bài trước, "Et j'entends siffler le train", thì các anh chị thuộc quá rồi. Nhưng tôi cũng xin dịch để chảy thêm chút nước mắt nữa với các người tình khốn khổ :

Lòng anh nghĩ, em yêu, thà như thế
Thà xa nhau không lời tiễn biệt nhau
Lòng anh đau, gặp làm gì nhau nữa
Nhưng, em yêu, tiếng còi tàu đang thét
Buồn bao nhiêu còi giữa đêm thâu.

Anh nghĩ đến em, một mình, quạnh quẽ
Trên sân ga, giữa người vẫy tay nhau
Và anh nghe tiếng còi tàu đang thét
Buồn bao nhiêu còi giữa đêm thâu.

Anh toan chạy đến em, toan gọi tên tha thiết
Nhưng đành im, nói chẳng nên lời
Em đã xa rồi, em xa anh quá
Có bao giờ em trở lại em ơi !

Lòng anh nghĩ, em yêu, thà như thế
Thà xa nhau không lời tiễn biệt nhau.
Nhưng giờ đây, ôi, còn gì đâu nữa
Còn gì đâu khi tình đã xa khơi.
Và anh nghe tiếng còi tàu đang thét
Suốt đời anh tiếng còi thét, em ơi !

Khánh Ly đang ở sau màn và chắc đang nghe tôi đọc thơ tình. Nếu các anh chị muốn, tôi đề nghị Khánh Ly vui lòng hát lại một bài hát ngày xưa, để nhớ lại kỷ niệm 56 năm về trước, để 56 năm với TCS.

Các anh chị hãy tưởng tượng : nhà hát này là một vũ trường, một trong những dạ khách ngồi kia là TCS, và xa xa vọng về tiếng đại bác, ru đêm và ru tiếng hát Khánh Ly.


Lời 5: Hòa bình

Các anh chị thân mến,

"Khi đất nước tôi thanh bình" là câu đầu của bài "Tôi sẽ đi thăm". TCS tuyên bố sẽ đi thăm hầm chông, mộ chí, nghĩa địa, kể cả mã tấu. Và anh tuyên bố thêm : "Khi đất nước tôi không còn giết nhau / Trẻ con đi hát đồng dao ngoài đường".

Khi lấy câu hát đầu của bài hát này để làm nhan đề cho Phần 2 của chương trình đêm nay, tôi có nghe một ý kiến, nói rằng bài hát này ngây thơ quá, vẽ ra một TCS quá ngây thơ. Trời ơi ! - tôi nói - Có gì đẹp bằng ngây thơ ! Ta thường ca ngợi : một đôi mắt ngây thơ, một vầng trán ngây thơ, một nụ cười ngây thơ … Vậy thì một lời hát ngây thơ của một bài đồng dao ngây thơ là quá đẹp đi chứ !

Mà chắc gì TCS ngây thơ ! Chắc gì có ai định nghĩa "hòa bình" đúng hơn hình ảnh "trẻ con đi hát đồng dao ngoài đường" !

Tôi xin phép các anh chị được làm một cụ đồ nghiêm túc, khắc khổ - nghĩa là trái ngược với ngây thơ - để định nghĩa chữ "hòa bình" theo lối chiết tự. Chữ "hòa" có bộ khẩu bên phía phải. Khẩu là cái miệng. Trước hết, cái miệng phải cần ăn. Hòa bình là tình trạng dân chúng ai ai cũng có đủ cơm mà ăn. Nhưng cái miệng không phải chỉ biết ăn. Nó còn biết nói. Cấm nói, ấy không phải là hòa bình rồi. Hòa bình là tình trạng ai ai cũng có thể nói lên được điều mình mơ ước. Chưa hết, cái miệng không phải chỉ biết ăn, biết nói, mà còn biết hát nữa. Cấm hát, cam đoan cả vũ trụ này sẽ nổi loạn, trước hết là chim chóc, trước hết là rừng thông, trước hết là giọt mưa trên lá. Ấy vậy mà hát TCS, chỗ này chống, chỗ kia đối, chỗ nọ xì xào, da vàng da đỏ. Hòa bình chỗ nào ?

Chiến tranh chấm dứt rồi. Điều đó không có nghĩa rằng hòa bình không còn là giấc mơ.

Cám ơn các anh chị, tôi xin chấm dứt nhiệm vụ mua vui của tôi ở đây.

CAO HUY THUẦN

Chủ Nhật, 26 tháng 6, 2011


BÔNG HỒNG CÀI ÁO

THIỀN SƯ NHẤT HẠNH

-Để dâng mẹ và để làm quà Vu Lan cho những người nào có diễm phúc còn mẹ.
Nhất Hạnh

Ý niệm về mẹ thường không thể tách rời ý niệm về tình thương. Mà tình thương là một chất liệu ngọt ngào, êm dịu và cố nhiên là ngon lành. Con trẻ thiếu tình thương thì không lớn lên được. Người lớn thiếu tình thương thì cũng không "lớn" lên được. Cằn cỗi , héo mòn. Ngày mẹ tôi mất, tôi viết trong nhật ký: Tai nạn lớn nhất đã xẩy ra cho tôi rồi! Lớn đến mấy mà mất mẹ thì cũng như không lớn, cũng cảm thấy bơ vơ, lạc lõng, cũng không hơn gì trẻ mồ côi. Những bài hát, bài thơ ca tụng tình mẹ bài nào cũng dễ, cũng hay. Người viết dù không có tài ba, cũng có rung cảm chân thành; người hát ca, trừ là kẻ không có mẹ ngay từ thuở chưa có ý niệm, ai cũng cảm động khi nghe nói đến tình mẹ. Những bài hát ca ngợi tình mẹ đâu cũng có, thời nào cũng có. Bài thơ mất mẹ mà tôi thích nhất, từ hồi nhỏ, là một bài thơ rất giản dị. Mẹ đang còn sống, nhưng mỗi khi đọc bài thơ ấy thì sợ sệt, lo âu.... sợ sệt lo âu một cái gì còn xa, chưa đến, nhưng chắc chắn phải đến :

Năm xưa tôi còn nhỏ
Mẹ tôi đã qua đời !
Lần đầu tiên tôi hiểu
Thân phận trẻ mồ côi.

Quanh tôi ai cũng khóc
Im lặng tôi sầu thôi
Ðể dòng nước mắt chảy
Là bớt khổ đi rồi...

Hoàng hôn phủ trên mộ
Chuông chùa nhẹ rơi rơi
Tôi thấy tôi mất mẹ
Mất cả một bầu trời.

Một bầu trời thương yêu dịu ngọt, lâu quá mình đã bơi lội trong đó, sung sướng mà không hay, để hôm nay bừng tỉnh thì thấy đã mất rồi. Người nhà quê Việt nam không ưa cách nói cao kỳ. Nói rằng bà mẹ già là kho tàng của yêu thương, của hạnh phúc thì cũng đã là cao kỳ rồi. Nói mẹ già là một thứ chuối, một thứ xôi, một thứ đường ngọt dịu, người dân quê đã diễn tả được tình mẹ một cách vừa giản dị vừa đúng mức :

Mẹ già như chuối ba hương
Như xôi nếp một, như đường mía lau.

Ngon biết bao ! Những lúc miệng vừa đắng vừa nhạt sau một cơn sốt, những lúc như thế thì không có món ăn gì có thể gợi được khẩu vị của ta. Chỉ khi nào mẹ đến, kéo chăn đắp lên ngực cho ta, đặt bàn tay (Bàn tay ? hay là tơ trời đâu la miên ?) trên trán nóng ta và than thở "khổ chưa, con tôi ", ta mới cảm thấy đầy đủ, ấm áp, thấm nhuần chất ngọt của tình mẹ, ngọt thơm như chuối ba hương, dịu như xôi nếp một, và đậm đà lịm cả cổ họng như đường mía lau. Tình mẹ thì trường cửu, bất tuyệt; như chuối ba hương, đường mía lau, xôi nếp một ấy không bao giờ cùng tận.

Công cha như núi Thái sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chẩy ra . Nước trong nguồn chảy ra thì bất tuyệt. Tình mẹ là gốc của mọi tình cảm yêu thương. Mẹ là giáo sư dạy về yêu thương, một phân khoa quan trọng nhất trong trường đại học cuộc đời. Không có mẹ, tôi sẽ không biết thương yêu. Nhờ mẹ mà tôi được biết tình nhân loại, tình chúng sinh ; nhờ mẹ mà tôi biết được thế nào là tình nhân loại, tình chúng sinh ; nhờ mẹ mà tôi có được chút ý niệm về đức từ bi. Vì mẹ là gốc của tình thương, nên ý niệm mẹ lấn trùm ý thương yêu của tôn giáo vốn dạy về tình thương.

Ðạo Phật có đức Quan Thế Âm, tôn sùng dưới hình thức mẹ. Em bé vừa mở miệng khóc thì mẹ đã chạy tới bên nôi. Mẹ hiện ra như một thiên thần dịu hiền làm tiêu tan khổ đau lo âu. Ðạo Chúa có đức Mẹ, thánh nữ đồng trinh Maria. Trong tín ngưỡng bình dân Việt có thánh mẫu Liễu Hạnh, cũng dưới hình thức mẹ. Bởi vì chỉ cần nghe đến danh từ Mẹ, ta đã thấy lòng tràn ngập yêu thương rồi. Mà từ yêu thương tín ngưỡng và hành động thì không xa chi mấy bước.

Tây phương không có ngày Vu Lan nhưng cũng có Ngày Mẹ (Mother's Day) mồng mười tháng năm. Tôi nhà quê không biết cái tục ấy. Có một ngày tôi đi với Thầy Thiên Ân tới nhà sách ở khu Ginza ở Ðông Kinh, nửa đường gặp mấy người sinh viên Nhật, bạn của thầy Thiên Ân. Có một cô sinh viên hỏi nhỏ Thầy Thiên Ân một câu, rồi lấy ở trong sắc ra một bông hoa cẩm chướng màu trắng cài vào khuy áo tràng của tôi. Tôi lạ lùng, bỡ ngỡ, không biết cô làm gì, nhưng không dám hỏi, cố giữ vẻ tự nhiên, nghĩ rằng có một tục lệ chi đó. Sau khi họ nói chuyện xong, chúng tôi vào nhà sách, thầy Thiên Ân mới giảng cho tôi biết đó là Ngày Mẹ, theo tục Tây phương. Nếu anh còn mẹ, anh sẽ được cài một bông hoa màu hồng trên áo, và anh sẽ tự hào được còn mẹ. Còn nếu anh mất mẹ, anh sẽ được cài trên áo một bông hoa trắng.

Tôi nhìn lại bông hoa trắng trên áo mà bỗng thấy tủi thân. Tôi cũng mồ côi như bất cứ một đứa trẻ vô phúc khốn nạn nào; chúng tôi không có được cái tự hào được cài trên áo một bông hoa màu hồng. Người được hoa trắng sẽ thấy xót xa, nhớ thương không quên mẹ, dù người đã khuất. Người được hoa hồng sẽ thấy sung sướng nhớ rằng mình còn mẹ, và sẽ cố gắng để làm vui lòng mẹ, kẻo một mai người khuất núi có khóc than cũng không còn kịp nữa. Tôi thấy cái tục cài hoa đó đẹp và nghĩ rằng mình có thể bắt chước áp dụng trong ngày báo hiếu Vu Lan.

Mẹ là một dòng suối, một kho tàng vô tận, vậy mà lắm lúc ta không biết, để lãng phí một cách oan uổng. Mẹ là một món qùa lớn nhất mà cuộc đời tặng cho ta, những kẻ đã và đang có mẹ. Ðừng có đợi đến khi mẹ chết rồi mới nói: "trời ơi, tôi sống bên mẹ suốt mấy mươi năm trời mà chưa có lúc nào nhìn kỹ được mặt mẹ!". Lúc nào cũng chỉ nhìn thoáng qua. Trao đổi vài câu ngắn ngủi. Xin tiền ăn quà. Ðòi hỏi mọi chuyện. Ôm mẹ mà ngủ cho ấm. Giận dỗi. Hờn lẫy. Gây bao nhiêu chuyện rắc rối cho mẹ phải lo lắng, ốm mòn, thức khuya dậy sớm vì con. Chết sớm cũng vì con. Ðể mẹ phải suốt đời bếp núc, vá may, giặt rửa, dọn dẹp. Và để mình bận rộn suốt đời lên xuống ra vào lợi danh. Mẹ không có thì giờ nhìn kỹ con. Và con không có thì giờ nhìn kỹ mẹ. Ðể khi mẹ mất mình có cảm nghĩ: "Thật như là mình chưa bao giờ có ý thức rằng mình có mẹ!"

Chiều nay khi đi học về, hoặc khi đi làm việc ở sở về, em hãy vào phòng mẹ với một nụ cười thật trầm lặng và thật bền. Em sẽ ngồi xuống bên mẹ. Sẽ bắt mẹ dừng kim chỉ, mà đừng nói năng chi. Rồi em sẽ nhìn mẹ thật lâu, thật kỹ để trông thấy mẹ và để biết rằng mẹ đang còn sống và đang ngồi bên em. Cầm tay mẹ, em sẽ hỏi một câu ngắn làm mẹ chú ý. Em hỏi: " Mẹ ơi, mẹ có biết không ?" Mẹ sẽ hơi ngạc nhiên và sẽ hỏi em, vừa hỏi vừa cười "Biết gì?" Vẫn nhìn vào mắt mẹ, vẫn giữ nụ cười trầm lặng và bền, em sẽ nói: "Mẹ có biết là con thương mẹ không ?" Câu hỏi sẽ không cần được trả lời. Cho dù người lớn ba bốn mươi tuổi ngừơi cũng có thể hỏi một câu như thế, bởi vì người là con của mẹ. Mẹ và em sẽ sung sướng, sẽ sống trong tình thương bất diệt. Mẹ và em sẽ đều trở thành bất diệt và ngày mai, mẹ mất, em sẽ không hối hận, đau lòng.

Ngày Vu Lan ta nghe giảng và đọc sách nói về ngài Mục Kiền Liên và về sự hiếu đễ. Công cha, nghĩa mẹ. Bổn phận làm con. Ta lạy Phật cầu cho mẹ sống lâu. Hoặc lạy mười phương Tăng chú nguyện cho mẹ được tiêu diêu nơi cực lạc, nếu mẹ đã mất. Con mà không có hiếu là con bỏ đi. Nhưng hiếu thì cũng do tình thương mà có; không có tình thương hiếu chỉ là giả tạo, khô khan, vụng về, cố gắng mệt nhọc. Mà có tình thương là có đủ rồi. Cần chi nói đến bổn phận. Thương mẹ, như vậy là đủ. Mà thương mẹ không phải là một bổn phận.

Thương mẹ là một cái gì rất tự nhiên. Như khát thì uống nước. Con thì phải có mẹ, phải thương mẹ. Chữ phải đây không phải là luân lý, là bổn phận. Phải đây là lý đương nhiên. Con thì đương nhiên thương mẹ, cũng như khát thì đương nhiên tìm nước uống. Mẹ thương con, nên con thương mẹ. con cần mẹ, mẹ cần con. Nếu mẹ không cần con, con không cần mẹ, thì đó không phải là mẹ là con. Ðó là lạm dụng danh từ mẹ con. Ngày xưa thầy giáo hỏi rằng: "Con mà thương mẹ thì phải làm thế nào?" Tôi trả lời: "Vâng lời, cố gắng, giúp đỡ, phụng dưỡng lúc mẹ về già và thờ phụng khi mẹ khuất núi". Bây giờ thì tôi biết rằng: Con thương mẹ thì không phải "làm thế nào" gì hết. Cứ thương mẹ, thế là đủ lắm rồi, đủ hết rồi, cần chi phải hỏi " làm thế nào " nữa!

Thương mẹ không phải là một vấn đề luân lý đạo đức. Anh mà nghĩ rằng tôi viết bài này để khuyên anh về luân lý đạo đức là anh lầm. Thương mẹ là một vấn đề hưởng thụ. Mẹ như suối ngọt, như đường mía lau, như xôi nếp một. Anh không hưởng thụ thì uổng cho anh. Chị không hưởng thụ thì thiệt hại cho chị. Tôi chỉ cảnh cáo cho anh chị biết mà thôi. Ðể mai này anh chị đừng có than thở rằng: Ðời ta không còn gì cả. Một món quà như mẹ mà còn không vừa ý thì họa chăng có làm Ngọc hoàng Thượng đế mới vừa ý, mới bằng lòng, mới sung sướng. Nhưng tôi biết Ngọc hoàng không sung sướng đâu, bởi Ngọc hoàng là đấng tự sinh, không bao giờ có diễm phúc có được một bà mẹ.

Tôi kể chuyện này, anh đừng nói tôi khờ dại. Ðáng nhẽ chị tôi không đi lấy chồng, và tôi, tôi không nên đi tu mới phải. Chúng tôi bỏ mẹ mà đi, người thì theo cuộc đời mới bên cạnh người con trai thương yêu, người thì đi theo lý tưởng đạo đức mình say mê và tôn thờ. Ngày chị tôi đi lấy chồng, mẹ tôi lo lắng lăng xăng, không tỏ vẻ buồn bã chi.

Nhưng đến khi chúng tôi ăn cơm trong phòng, ăn qua loa để đợi giờ rước dâu, thì mẹ tôi không nuốt được miếng nào. Mẹ nói: "Mười tám năm trời nó ngồi ăn cơm với mình, bây giờ nó ăn bữa cuối cùng rồi thì nó sẽ đi ăn ở một nhà khác". Chị tôi gục đầu xuống mâm khóc. Chị nói: "Thôi con không lấy chồng nữa". Nhưng rốt cuộc thì chị cũng đi lấy chồng. Còn tôi thì bỏ mẹ mà đi tu. "Cát ái từ sở thân" là lời khen ngợi người có chí xuất gia. Tôi không tự hào chi về lời khen đó cả. Tôi thương mẹ, nhưng tôi có lý tưởng, vì vậy phải xa mẹ. Thiệt thòi cho tôi, có thế thôi. Ở trên đời, có nhiều khi ta phải chọn lựa. Mà không có sự chọn lựa nào mà không khổ đau. Anh không thể bắt cá hai tay. Chỉ khổ là vì muốn làm người nên anh phải khổ đau. Tôi không hối hận vì bỏ mẹ đi tu nhưng tôi tiếc và thương cho tôi vô phúc thiệt thòi nên không được hưởng thụ tất cả kho tàng qúi báu đó. Mỗi buổi chiều lạy Phật, tôi cầu nguyện cho mẹ. Nhưng tôi không được ăn chuối ba hương, xôi nếp một và đường mía lau.

Anh cũng đừng tưởng tôi khuyên anh: "Không nên đuổi theo sự nghiệp mà chỉ nên ở nhà với mẹ!". Tôi đã nói là tôi không khuyên răn gì hết -- tôi không giảng luân lý đạo đức -- rồi mà! Tôi chỉ nhắc anh: "Mẹ là chuối, là xôi, là đường, là mật, là ngọt ngào, là tình thương". Ðể chị đừng quên, để em đừng quên. Quên là một lỗi lớn : Cũng không phải là lỗi nữa, mà là một sự thiệt thòi. Mà tôi không muốn anh chị thiệt thòi, khờ dại mà bị thiệt thòi. Tôi xin cài vào túi áo anh một bông hoa hồng: để anh sung sướng, thế thôi.

Nếu có khuyên, thì tôi sẽ khuyên anh, như thế này. Chiều nay, khi đi học hoặc đi làm về, anh hãy vào phòng mẹ với một nụ cười thật trầm lặng và bền. Anh sẽ ngồi xuống bên mẹ. Sẽ bắt mẹ dừng kim chỉ, mà đừng nói năng chi. Rồi anh sẽ nhìn mẹ thật lâu, thật kỹ, để trông thấy mẹ và để biết rằng mẹ đang sống và đang ngồi bên anh. Cầm tay mẹ, anh sẽ hỏi một câu ngắn làm mẹ chú ý. Anh hỏi: "Mẹ ơi, mẹ có biết không?" Mẹ sẽ hơi ngạc nhiên và sẽ nhìn anh, vừa cười vừa hỏi: "Biết gì?" Vẫn nhìn vào mắt mẹ, giữ nụ cười trầm lặng và bền, anh sẽ hỏi tiếp: "Mẹ có biết là con thương mẹ không?" Câu hỏi sẽ không cần được trả lời. Cho dù anh lớn ba bốn mươi tuổi, chị lớn ba bốn mươi tuổi, thì anh cũng hỏi một câu ấy. Bởi vì anh, bởi vì chị, bởi vì em là con của mẹ. Mẹ và anh sẽ sung sướng, sẽ sống trong tình thương bất diệt. Và ngày mai mất mẹ, Anh sẽ không hối hận, đau lòng , tiếc rằng anh không có mẹ.

Ðó là điệp khúc tôi muốn ca hát cho anh nghe hôm nay. Và anh hãy ca, chị hãy ca cho cuộc đời đừng chìm trong vô tâm, quên lãng. Ðóa hoa mầu hồng tôi cài trên áo anh rồi đó. Anh hãy sung sướng đi./-

Nhất Hạnh (1962)

A Rose for Your Pocket

Thich Nhat Hanh



The thought "mother" cannot be separated from that of "love". Love is sweet, tender, and delicious. Without love, a child cannot flower, an adult cannot mature. Without love, we weaken, wither.

The day my mother died, I made this entry in my journal: "the greatest misfortune of my life has come !". Even an old person, when he loses his mother, doesn't feel ready. He too has the impression that he is not yet ripe, that he is suddenly alone. He feels as abandoned and unhappy as a young orphan.

All songs and poems praising motherhood are beautiful, effortlessly beautiful. Even songwriters and poets without much talent seem to pour their hearts into these works, and when they are recited or sung, the performers also seem deeply moved, unless they have lost their mothers too early even to know what love for mother is. Writings extolling the virtues of motherhood have existed since the beginning of time throughout the world.

When I was a child I heard a simple poem about losing your mother, and it is still very important for me. If your mother is still alive, you may feel tenderness for her each time you read this, fearing this distant yet inevitable event.

That year, although I was still very young
my mother left me,
and I realised that I was an orphan,

everyone around me was crying,
I suffered in silence...
Allowing the tears to flows,
I felt my pain soften.

Evening enveloped
Mother's tomb,
the pagoda bell rang sweetly.
I realised that to lose your mother
is to lose the whole universe.

We swim in a world of tender love for many years, and, without even knowing it, we are quite happy there. Only after it is too late do we become aware of it.

People in the countryside do not understand the complicated language of city people. When people from the city say that mother is "a treasure of love", that is already too complex for them. Country people in Vietnam compare their mothers to the finest varieties of bananas or to honey, sweet rice, or sugar cane. They express their love in these simple and direct ways. For me, a mother is like a "ba hu+o+ng" banana of the highest quality, like the best "ne^'p mo^.t" sweet rice, the most delicious "mi'a lau" sugar cane!

There are moments after a fever when you have a bitter, flat taste in your mouth, and nothing tastes good. Only when your mother comes and tucks you in, gently pulls the covers over your chin, puts her hand on your burning forehead (Is it really a hand, or is it the silk of heaven?), and gently whispers, "My poor darling!" do you feel restored, surrounded with the sweetness of maternal love. Her love is so fragrant, like a banana, like sweet rice, like sugar cane.

Father's work is enormous, as huge as a mountain. Mother's devotion is overflowing, like water from a mountain spring . Maternal love is our first taste of love, the origin of all feelings of love. Our mother is the teacher who first teaches us love, the most important subject in life. Without my mother I could never have known how to love. Thanks to her I can love my neighbours. Thanks to her I can love all living beings. Through her I acquired my first notions of understanding and compassion.

Mother is the foundation of all love, and many religious traditions recognise this and pay deep honour to a maternal figure, the Virgin Mary, the goddess Kwan Yin. Hardly an infant has opened her mouth to cry without her mother already running to the cradle. Mother is a gentle and sweet spirit who makes unhappiness and worries disappear. When the word "mother" is uttered, already we feel our hearts overflowing with love. From love, the distance to belief and action is very short.

In the West, we celebrate Mother's Day in May. I am from the countryside of Vietnam, and I had never heard of this tradition. One day, I was visiting the Ginza district of Tokyo with the monk Thien An, and we were met outside a bookstore by several Japanese students who were friends of his. One discretely asked him a question, and then took a white carnation from her bag and pinned it on my robe. I was surprised and a little embarrassed. I had no idea what this gesture meant, and I didn't dare ask. I tried to act natural, thinking this must be some local custom.

When they were finished talking (I don't speak Japanese), Thien An and I went into the bookstore, and he told me that today was what is called Mother's Day. In Japan, if your mother is still alive, you wear a red flower on your pocket or your lapel, proud that you still have your mother. If she is no longer alive, you wear a white flower. I looked at the white flower on my robe and suddenly I felt so unhappy.

I was as much an orphan as any other unhappy orphan; we could no longer proudly wear red flowers in our buttonholes. Those who wear white flowers suffer, and their thoughts cannot avoid returning to their mothers. They cannot forget that she is no longer there. Those who wear red flowers are so happy, knowing their mothers are still alive. They can try to please her before she is gone and it is too late. I find this a beautiful custom. I propose that we do the same thing in Vietnam, and in the West as well.

Mother is a boundless source of love, an inexhaustible treasure. But unfortunately, we sometimes forget. A mother is the most beautiful gift life offers us. Those of you who still have your mother near, please don't wait for her death to say, "My God, I have lived beside my mother all these years without ever looking closely at her."

Just brief glances, a few words exchanged-asking for a little pocket money or one thing or another. You cuddle up to her to get warm, you sulk, you get angry with her. You only complicate her life, causing her to worry, undermining her health, making her go to sleep late and get up early. Many mothers die young because of their children. Throughout her life we expect her to cook, wash, and clean up after us, while we think only about our grades and our careers. Our mothers no longer have time to look deeply at us, and we are too busy to look closely at her. Only when she is no longer there do we realise that we have never been conscious of having a mother.

This evening, when you return from school or work or, if you live far away, the next time you visit your mother, you may wish to go into her room and, with a calm and silent smile, sit down beside her. Without saying anything, make her stop working. Then, look at her for a long time, look at her deeply. Do this in order to see her, to realise that she is there, she is alive, beside you. Take her hand and ask her one short question to capture her attention, "Mother, do you know something?" She will be a little surprised and will probably smile when she asks you, "What, dear?" Keep looking into her eyes, smiling serenely, and say, "Do you know that I love you?" Ask this question without waiting for an answer. Even if you are thirty or forty years old, or older, ask her as the child of your mother. Your mother and you will be happy, conscious of living in eternal love. Then tomorrow, when she leaves you, you will have no regrets.

In Vietnam, on the holiday of Ullambana, we listen to stories and legends about the bodhisattva Maudgalyayana, and about filial love, the work of the father, the devotion of the mother, and the duty of the child. Everyone prays for the longevity of his or her parents, or if they are dead, for their rebirth in the heavenly Pure Land. We believe that a child without filial devotion is just artificial. But filial devotion also arises from love itself. Without love, filial devotion is just artificial. When love is present, that is enough, and there is no need to talk of obligation. To love your mother is enough. It is not a duty, it is completely natural, like drinking when you are thirsty. Every child must have a mother and it is totally natural to love her. The mother loves her child, and the child loves his mother. The child needs his mother, and the mother needs her child. If the mother doesn't need her child, nor the child his mother, then this is not a mother, and this is not a child. It is a misuse of the words "mother" and "child".

When I was young, one of my teachers asked me, "What do you have to do when you love your mother?" I told him, "I must obey her, help her, take care of her when she is old, and pray for her, keeping the ancestral altar when she has disappeared forever behind the mountain." Now I know that the word "What" in his question was superfluous. If you love your mother, you don't have to do anything. You love her; that is enough. To love your mother is not a question of morality or virtue.

Please do not think I have written this to give a lesson in morality. Loving your mother is a question of profit. A mother is like a spring of pure water, like the very finest sugar cane or honey, the best quality sweet rice. If you do not know how to profit from this, it is unfortunate for you. I simply want to bring this to your attention, to help you avoid one day complaining that there is nothing left in life for you. If a gift such as the presence of your own mother doesn't satisfy you, even if you are president of a large corporation or king of the universe, you probably will not be satisfied. I know that the Creator is not happy, for the Creator arises spontaneously and does not have the good fortune to have a mother.

I would like to tell a story. Please don't think that I am thoughtless. It could have been that my sister didn't marry, and I didn't become a monk. In any case, we both left our mother -- one to lead a new life beside the man she loved, and the other to follow an ideal of life that he adored. The night my sister married, my mother worried about a thousand and one things, and didn't even seem sad. But when we sat down at the table for some light refreshments, while waiting for our in-laws to come for my sister, I saw that my mother hadn't eaten a bite. She said, "For eighteen years she has eaten with us and today is her last meal here before going to another family's home to take her meals." My sister cried, her head bowing barely above her plate, and she said, "Mama, I won't get married." But she married nonetheless. As for me, I left my mother to become a monk. To congratulate those who are firmly resolved to leave their families to become monks, one says that they are following the way of understanding, but I am not proud of it. I love my mother, but I also have an ideal, and to serve it I had to leave her -- so much the worse for me.

In life, it is often necessary to make difficult choices. We cannot catch two fish at the same time: one in each hand. It is difficult, because if we accept growing up, we must accept suffering. I don't regret leaving my mother to become a monk, but I am sorry I had to make such a choice. I didn't have the chance to profit fully from this precious treasure. Each night I pray for my mother, but it is no longer possible for me to savour the excellent "ba hu+o+ng" banana, the best quality "ne^'p mo^.t" sweet rice, and the delicious "mi'a lau" sugar cane. Please don't think that I am suggesting that you not follow your career and remain home at your mother's side. I have already said I do not want to give advice or lessons in continuing to look into her eyes with a serene smile, tell her, "Do you know that I love you?" Ask her this question without waiting for an answer. Even if you are thirty, forty years old, or older, ask her simply, because you are the child of your mother. Your mother and you will both be happy, conscious of living in eternal love. And tomorrow when she leaves you, you will not have any regrets.

This is the refrain I give you to sing today. Brothers and sisters, please chant it, please sing it, so that you won't live in indifference or forgetfulness. This red rose, I have already placed it on your lapel. Please be happy.

Thich Nhat Hanh (1962)

Thứ Sáu, 17 tháng 6, 2011

Thầy Văn Như Cương- Ai đã từng...

"Ai đã từng dạy tôi thì giơ tay!"
- Thú thật, khi được nghe câu chuyện này tôi không tin. Nhưng người kể lại là một người có thật, một thầy giáo ở một trường ĐH có thật, kể về một cuộc gặp gỡ có thật, và người nói câu mệnh lệnh trên cũng có thật một trăm phần trăm!

Bây giờ tôi viết lại câu chuyện này, ai “tin thì tin, không tin thì thôi”.

Chuyện là có một người đã học và đã tốt nghiệp ở một trường ĐH vào loại có tiếng ở nước ta. Sau khi ra trường mấy năm, không hiểu trời xui đất khiến hay tổ tiên phù hộ độ trì gì đó mà anh ta được “bắn” sang một nước ngoài nào đấy sinh sống và làm ăn. Rồi nghe nói anh ta dần dần “nổi tiếng” trở thành một đấng trượng phu…

Hè về phượng đỏ thắm trường tôi.
Rồi anh ta muốn về nước chơi, thăm thú quê hương, mong góp sức mình cho đất nước trong thời kì đổi mới. Anh trở về ngôi trường xưa, muốn có một cuộc giao lưu với thầy cô giáo và bạn bè cũ.

Cuộc họp cũng không ít người, các bạn trẻ đến vì tò mò, các thầy giáo già đến vì muốn xem mặt học trò cũ mà trước đây mình không chú ý nên không nhớ ra.

Sau vài câu xã giao thường lệ, con người thành đạt ấy dừng một lúc để mọi người tập trung chú ý và nói: “Ai đã từng dạy tôi thì giơ tay!”.

Phòng họp đột nhiên im lặng như tờ, và không một cánh tay nào giơ lên… Rồi có tiếng động di chuyển bàn ghế và… các thầy giáo lần lượt im lặng ra về.

Chuyện kể đã xong, bây giờ xin cho phép tôi nhớ lại chuyện cũ hồi đi học. Có một bài học trong sách giáo khoa tiểu học mà tôi không thể nào quên. Bài học nhan đề: “Thưa thầy, con là Các-nô đây”. Bài học chỉ hơn nửa trang giấy cùng với một bức ảnh (hay bức vẽ, tôi không phân biệt được vì còn nhỏ).

Trong bức ảnh có một thầy giáo già đang ngồi sau chiếc bàn, trước mặt là học trò, cửa ra vào mở rộng và trong khung cửa là hình một người đàn ông chững chạc có râu mép quăn, đi ủng cao đến đầu gối. Tay phải ông ta ấp lên ngực trái chỗ con tim, đầu cúi thấp và miệng ông dường như đang nói : “Thưa thầy, con là Các-nô đây”.

Cho đến nay tôi cũng không biết Các-nô là ai, chỉ biết rằng ông ta là một quan to, trở về quê hương, muốn đến thăm thầy giáo cũ và lớp học cũ của mình, và bài học trong sách giáo khoa nói về cái phút giây gặp gỡ ấy.

Tôi còn nhớ người thầy tên là thầy Thái đã dạy tôi bài học ấy ở ngôi trường làng. Thầy thường đánh vào mông tôi mỗi khi tôi viết sai chính tả hoặc làm ồn trong lớp. Thầy thường quát: “Lại thằng Cương phải không? Làm ồn vừa chứ, muốn đét vào đít hả ?”.

Học xong bài học ấy tôi cứ mong ước một ngày nào đó, khi đã trưởng thành, tôi sẽ quay về đúng lớp học này, mở cửa bước vào, không chỉ cúi đầu như Các-nô, mà tôi sẽ quỳ xuống trước mặt thầy và nói : “Thưa thầy, con là …thằng Cương đây”.

Nhưng tôi đã không làm được điều đó. Hỡi ôi! Thầy tôi đã mất trước khi tôi kịp nên người…

Văn Như Cương

Thứ Sáu, 3 tháng 6, 2011

Những câu Kiều hay...Vương Trọng

NĂM MƯƠI CÂU KIỀU HAY NHẤT
(Số thứ tự đánh theo sự xuất hiện trong Truyện Kiều)

1- Cỏ non xanh tận chân trời / Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

2- Sống làm vợ khắp người ta / Hại thay thác xuống làm ma không chồng.

3- Người đâu gặp gỡ làm chi / Trăm năm biết có duyên gì hay không.

4- Ngổn ngang trăm mối bên lòng / Nên câu tuyệt diệu ngụ trong tính tình.

5- Một mình lưỡng lự canh chầy / Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh.

6- Sầu đong càng khắc càng đầy / Ba thu dồn lại một ngày dài ghê.

7- Mành tương phất phất giò đàn / Hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình.

8- Gió chiều như giục cơn sầu / Vi lô hiu hắt như mầu khơi trêu.

9- Rằng: trăm năm, kể từ đây / Của tin gọi một chút này làm ghi

10- Bây giờ rõ mặt đôi ta / Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao

11- Gìn vàng giữ ngọc cho hay / Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời.

12- Trăng thề còn đó trơ trơ / Dám xa xôi mặt mà thơ thớt lòng.

13- Ông tơ ghét bỏ chi nhau / Chưa vui sum họp đã sầu chia phôi.

14- Đau lòng tử biệt sinh ly / Thân còn chẳng tiếc, tiếc gì đến duyên.

15- Phận sao đành vậy cũng vầy / Cầm như chẳng đỗ những ngày còn xanh.

16- Trong tay đã sẵn đồng tiền / Dù lòng đổi trắng thay đen khó gì.

17- Đau lòng kẻ ở người đi / Lệ rơi thấm đá, tơ chia rũ tằm.

18- Biết thân đến bước lạc loài / Nhị đào thà bẻ cho người tình chung.

19- Miếng ngon kề đến tận nơi / Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham.

20- Đoạn trường thay lúc phân kỳ / Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh.

21- Thôi con còn nói chi con / Sống nhờ đất khách, thác chôn quê người.

22- Từ đây góc bể bên trời / Nắng mưa thui thủi quê người một thân.

23- Vi lô san sát hơi may / Một trời thu để riêng ai một người.

24- Dặm khuya ngất tạnh, mù khơi / Thấy trăng mà thẹn những lời non sông

25- Thoắt trông nhờn nhợt màu da / Ăn chi to lớn đẫy đà làm sao.

26- Thương ôi tài sắc bậc này / Một dao oan nghiệt đứt dây phong trần.

27- Cũng liều nhắm mắt đưa chân / Để xem con tạo xoay vần đến đâu.

28- Đêm thu khắc lậu, canh tàn / Gió cây trút lá, trăng ngàn ngậm gương.

29- Thân lươn bao quản lấm đầu / Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa.

30- Vui là vui gượng kẻo là / Ai tri âm đó mặn mà với ai.

31- Đã đày vào kiếp phong trần / Sao cho sỉ nhục một lần mới thôi.

32- Rõ ràng trong ngọc trắng ngà / Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên.

33- Thương sao cho trọn thì thương / Tính sao cho vẹn mọi đường thì vâng.

34- Vầng trăng ai xẻ làm đôi / Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường.

35- Long lanh đáy nước in trời / Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng.

36- Bước vào phòng cũ lầu thơ / Tro than một đống, nắng mưa bốn tường.

37- Bốn phương mây trắng một màu / Trông vời cố quốc biết đâu là nhà.

38- Bề ngoài thơn thớt nói cười /Mà trong nham hiểm giết người không dao.

39- Nhẹ như bấc, nặng như chì / Gỡ cho ra nợ còn gì là duyên.

40- Phận bèo bao quản nước sa / Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh.

41- Biết thân tránh chẳng khỏi trời / Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh.

42- Đến bây giờ mới thấy đây / Mà lòng đã chắc những ngày một hai.

43- Tiếc thay chút nghĩa cũ càng / Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng.

44- Đàn bà dễ có mấy tay / Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan.

45- Phong trần mài một lưỡi gươm / Những phường giá áo túi cơm sá gì.

46- Chọc trời khuấy nước mặc dầu / Dọc ngang nào biết trên đầu có ai.

47- Một cung gió thảm mưa sầu / Bốn dây rỏ máu năm đầu ngón tay.

48- Đánh tranh chụm nóc thảo đường / Một gian nước biếc mây vàng chia hai.

49- Thẫn thờ lúc tỉnh lúc mê / Máu theo nước mắt, hồn lìa chiêm bao.

50- Tưởng bây giờ là bao giờ / Rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao.

Nếu chỉ được chọn 10 câu (top ten), tôi tiến cử danh sách sau:

1- Sống làm vợ khắp người ta
Hại thay thác xuống làm ma không chồng.

2- Một mình lưỡng lự canh chầy
Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh.

3- Dặm khuya ngất tạnh mù khơi
Thấy trăng mà thẹn những lời non sông.

4- Cũng liều nhắm mắt đưa chân
Để xem con tạo xoay vần đến đâu.

5- Thân lươn bao quản lấm đầu
Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa.

6- Đã đày vào kiếp phong trần
Sao cho sỉ nhục một lần mới thôi.

7- Long lanh đáy nước in trời
Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng.

8- Bốn phương mây trắng một mầu
Trông vời cố quốc biết đâu là nhà.

9- Biết thân tránh chẳng khỏi trời
Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh.

10- Phận bèo bao quản nước sa
Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh.

Có thể mười câu tôi cho là hay nhất, không đúng với cách chọn lựa của những người khác. Nhưng tôi tin, phần lớn số câu trong 50 câu trên kia sẽ có mặt trong danh sách 50 câu Kiều hay nhất tự chọn của mọi người yêu mến Truyện Kiều.
Vương Trọng