Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2009

MỘT NGƯỜI VIỆT GIỐNG ÔNG OBAMA


Một người Việt giống ông Obama

26/06/2009 9:06
Ông Nguyễn Đức Vân - Ảnh: Dương Trần
(TNTS) Trong chuyến đi Tây Nguyên vừa qua, chúng tôi vừa phát hiện có thêm một người giống đương kim Tổng thống Mỹ Barack Obama. Đó là một nhà sư Việt Nam, 36 tuổi, hiện sống tại Bảo Lộc, Lâm Đồng. Ông là Nguyễn Đức Vân.

Khi ông Barack Obama lên nhậm chức vào tháng 1 năm nay, thế giới mạng bỗng xôn xao về trường hợp một công dân Indonesia có dung mạo trông giống Tổng thống Mỹ mới đắc cử Barack Obama. Cuộc sống của người thanh niên này chẳng mấy chốc bị xáo trộn bởi sự trùng hợp kỳ lạ này khi phải bất đắc dĩ tham gia vào nhiều sô diễn với mục đích chính là khai thác triệt để bề ngoài của anh.

Nay thì có lẽ, giới truyền thông sẽ thêm một lần nữa phải “kinh ngạc” nếu biết tại Việt Nam cũng có một “phiên bản” Obama. Và biết đâu, ai dám chắc rằng rồi đây cuộc sống thầm lặng của nhà sư Nguyễn Đức Vân sẽ không bị khuấy động?

Những nét tương đồng

“Khi Obama đắc cử, nhiều người quen đã gọi điện cho tôi, bảo sao thầy giống Obama quá vậy!”, nhà sư Nguyễn Đức Vân kể. Và chính bản thân người được xem là giống Obama cũng lấy làm ngạc nhiên về điều kỳ lạ này. “Những lần tôi bước vào quán cơm chay, một số người quen ồ lên thích thú khi phát hiện tôi có nét giống Obama. Sau đó, có người còn vui vẻ trả tiền cơm cho tôi”, nhà sư kể tiếp.

Ban đầu thì hơi bỡ ngỡ, nhưng rồi Nguyễn Đức Vân cũng quen dần. Đến khi nghe người bạn vong niên của mình là thi sĩ Phạm Thiên Thư “phán”: “Nét cười của thầy giống hệt Obama”, Vân mới thôi “ngơ ngác”. Và Vân cũng dần thích nghi với “vai” người giống Obama bất đắc dĩ.

So sánh thì quả là khập khiễng, nhưng quan sát, chúng tôi thấy giữa ông Obama và Nguyễn Đức Vân quả là có những nét tương đồng về ngoại hình. Cả hai người đều có nét rắn rỏi, cao ráo, đều có mái tóc xoăn và đen, mắt nâu. Obama tiếng là gốc Phi nhưng lai giữa mẹ da trắng và cha da đen nên ông có làn da nâu. Nguyễn Đức Vân cũng có làn da hao hao với người đứng đầu nước Mỹ nhờ được thừa hưởng gien của người mẹ lai Pháp (ông ngoại Vân là người Pháp). Những lúc “khẩu khí”, Obama thật và Nguyễn Đức Vân đều phô hàm răng trắng với cái miệng rộng, ánh nhìn như hút hồn người đối diện.

Và, cũng thật kỳ lạ khi hai người ở hai nửa bán cầu lại có một vài điểm tương đồng đặc biệt khác. Obama hơn Nguyễn Đức Vân đúng một giáp, nghĩa là hai người đều cầm tinh con Trâu! Cả hai đều có khả năng sáng tác. Trong khi Obama có hai đầu sách bán rất chạy, từng làm biên tập viên, sau đó là Chủ nhiệm, cho tờ Havard Law Review, Nguyễn Đức Vân thì làm thơ và viết nhạc. Anh đã xuất bản một tập thơ và hai đĩa nhạc, ấn bản mới nhất là CD ca nhạc Màu yêu thương do Saigon Vafaco sản xuất.

Về hoạt động xã hội, Obama nổi tiếng là người kiên định với lập trường bảo vệ môi trường, từng bỏ phiếu ủng hộ Đạo luật Chính sách Năng lượng năm 2005. Nguyễn Đức Vân cũng là một nhà môi trường và từng nhận được giải thưởng xanh của Tạp chí The Guide trong khuôn khổ Giải The Guide Award năm 2008 nhằm vinh danh công lao của anh đã tự tay trồng cả đồi sim rộng 5.000m2 ở Bảo Lộc, Lâm Đồng trong suốt hơn 6 năm qua.

Nguyễn Đức Vân là ai?

Người giống Obama chẳng phải quá xa lạ với những người yêu thơ. Nguyễn Đức Vân đã xuất bản tập thơ Người đẹp (NXB Trẻ - năm 2000), hai CD ca nhạc với những tác phẩm ngợi ca thiên nhiên và tình yêu cuộc sống. Anh cũng là người được cho là lập dị khi có thói quen phát ngôn mạnh bạo và trông rất “đời”, khác với con người hành giả của mình. Dù vậy, với những người quen của anh, Vân lúc nào cũng là Vân, vừa giản dị đời thường, vừa hành Thiền để tịnh tâm trì chí thực hiện những công việc có ý nghĩa của đời mình.

Giờ đây, Vân sẽ phải đối diện với sự “nổi tiếng” được dự báo trước của mình. Và anh không cho rằng điều đó không quá trầm trọng, đôi khi lại mang đến những thú vị bất ngờ nữa là đằng khác. “Những lần ra đường, thi thoảng về TP.HCM chơi, ai đó chợt thốt lên “Sao giống Obama quá”, tôi cũng cảm thấy ngồ ngộ, vui vui. Đôi khi, những điều như vậy mang đến cho mình cơ hội được giao tiếp với cộng đồng nhiều hơn”, Nguyễn Đức Vân tâm sự.

Cũng cần nói thêm, vào năm Nguyễn Đức Vân chào đời (1973), Obama đang theo học trường Punahou ở Honolulu, bang Hawaii. Ở tuổi của Nguyễn Đức Vân bây giờ, tức 12 năm trước đây, Obama là Nghị sĩ trong Thượng viện Tiểu bang Illinois (1997- 2004). Giờ đây, Barack Obama là người quyền lực nhất nước Mỹ. Còn Nguyễn Đức Vân là một hành giả sống lặng lẽ trên khu đồi nhỏ ở Lâm Đồng với hoạt động không mệt mỏi vì môi trường.



Ảnh: AFP
* Nhiếp ảnh gia Ilham Anas, 34 tuổi, người Indonesia, bất ngờ nổi tiếng nhờ có khuôn mặt gần giống Tổng thống Mỹ Barack Obama. Kém ông Obama 13 tuổi, hiện chàng thanh niên này nổi lên như một “sao” trên các kênh truyền hình Indonesia. Được biết, Ilham Anas sinh ra và lớn lên ở Bandung, phía tây đảo Java. Anh bắt đầu được chú ý sau khi ông Obama giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tháng 11.2008. Sau khi ông Obama tuyên thệ nhậm chức tổng thống vào ngày 20.1.2009, thì Ilham Anas cũng bắt đầu nổi tiếng. Vào dịp này, anh xuất hiện lần đầu tiên trong chương trình Not Four Eyes trên đài truyền hình Indonesia. Ilham Anas kiếm khá bộn tiền từ ngoại hình của mình với nhiều hợp đồng từ các đài truyền hình và các công ty quảng cáo. Tuy nhiên cái được lớn nhất khi giống với ông Obama của Anas là về tinh thần. Anh thổ lộ: “Tôi thấy giống Obama là một may mắn. Trước đây tôi thường nhìn vào kính và có sự tự ti về khuôn mặt của mình”.



Ảnh: AFP
* Michael Lamar, năm nay 44 tuổi, người ở Whitehall thuộc bang Pennsylvania, Mỹ vốn là một nhân viên ngân hàng thất nghiệp, do ngoại hình giống ông Obama nên đã được Ngân hàng Garanti ở Thổ Nhĩ Kỳ mời đóng quảng cáo trong vai Tổng thống đương nhiệm Mỹ. Ngoài ra, Michael Lamar cũng được một vài công ty khác mời đóng vai ông Obama trong một số clip quảng cáo. Tuy vinh hạnh được đóng vai Tổng thống Mỹ, nhưng Michael Lamar cũng phải chịu nhiều vất vả. Ông thổ lộ: “Ngoài việc phải thường xuyên đi “công du” xa gia đình, là việc phải “chịu trận” chụp hình trong nhiều giờ. Tôi phải cười cho đến lúc cứng cả hàm”. Lamar thường xuất hiện cùng với Sheena Harrell, một diễn giả đến từ Columbia, bang Maryland, người đóng thế Đệ nhất phu nhân Michelle Obama.

Trân Văn Thưởng

Thứ Năm, 25 tháng 6, 2009

Bút ký- Gửi em ngoài Huế



Bài dự thi Người Yêu Dấu

GỬI EM NGOÀI HUẾ

Do hoàn cảnh của ba, tôi có thêm cô em gái cùng cha khác mẹ. Ngày biết tin này tôi chẳng mấy vui, thêm rắc rối chứ phỏng có ích gì…Gặp mặt em hôm đầu, mẹ con tôi thầm thì chì chiết - nhìn thấy phát ghét, nó mà lớn thì phải biết, không vừa vặn chi đâu…
Thế nhưng không phải thế, em tôi ngoan hiền và đáng yêu lắm- em tôi là cứu tinh cho cả gia đình trong cơn túng bấn ngặt nghèo và chính tôi là người được em chia sẻ nhiều nhất. Nhiều lúc tôi thầm nghĩ: Nếu không có em gái giờ đây tôi sẽ thế nào? Hồi đó mình quá cạn nghĩ? Sao lại nhỏ nhen ích kỷ đến thế! Em nào có tội tình chi…

Em về sống trong gia đình nhưng chẳng ai mặn mà. Hình như biết điều đó nên em ít nói, ít tham gia chuyện trò và cố tìm vui trong công việc. Mọi việc nội trợ gia đình em đều chu tất với thái độ tự giác chẳng cần ai nhắc nhở. Mẹ tôi vốn cẩn trọng với việc nhà cũng phải thầm khen em gái. Dần dà em đã làm chúng tôi thay đổi nếp nghĩ không mấy thân thiện về em…

Năm ấy gia đình gặp chuyện chẳng lành. Mẹ tôi phải phẫu thuật do đột quỵ. Tôi vào mùa thi đại học. Nhà neo đơn, một tay em đứng ra cáng đáng mọi việc vừa lo chuyện nhà vừa chăm sóc mẹ - lúc đó em mới chỉ 15 đang bước vào bậc phổ thông trung học. Mãi sau này tôi còn biết thêm em đã cho máu cứu mẹ trong cơn thập tử nhất sinh. Ôi ! Em tôi tuyệt vời cao cả!

Sau cơn bạo bệnh của mẹ, gia đình tôi phải chuyển về quê sinh sống. Chúng tôi một người một ngả theo đường công danh sự nghiệp. Chỉ riêng em gái theo mẹ về quê. Cuộc sống nông thôn quá nhiều khó khăn em đành nghỉ học. Cũng từ đó em là trụ cột của gia đình. Mười sáu mười bảy mà trông em như bà cụ non, tất tả ngược xuôi lo toan mọi bề. Chuyện nhà, họ hàng, phải trái,chuyện cha mẹ già trái gió trở trời, dường như chúng tôi phó mặc cho em. Vậy mà tiếng thơm lại dành cho mấy đứa xa quê chúng tôi…Riêng tôi năm đi thực tập sinh nước ngoài em gái đã bán mấy chỉ vàng dành dụm cho chị phòng thân nơi đất khách…Ôi! Em tôi đảm đang tốt bụng!

Rồi em lấy chồng, tôi ở xa không về kịp. Chồng em là anh chàng nông dân hiền lành chăm chỉ ở làng bên. Cả hai quyết định ở nhà vợ đỡ đần cha mẹ già hay đau yếu. Thuận vợ thuận chồng họ đã có cuộc sống tạm ổn. Nhà chồng bà con xa gần, ai cũng khen em là nàng dâu thảo. Nhưng mà nói như sự đời: Giàu ở quê không bằng ngồi lê trên phố. Chúng tôi mỗi đứa có tiểu gia đình riêng, ai cũng cố thu vén để có đầy đủ mọi thứ, những tiện nghi vật chất nơi phố thị - sắm sửa, shopping, xe cộ…bao nhiêu cho đủ? Thi thoảng về quê thăm em gái, vài ba món quà vặt thành thị, lì xì mấy cháu ít tiền…Vậy mà ai cũng lên giọng…nào là công dung ngôn hạnh, tam tòng tứ đức, tam cương ngũ thường… đủ thứ luân lý đạo đức, làm như mình giỏi giang hiếu để. Có lần tôi nhìn em nghe chuyện, lặng lẽ nhưng rơm rớm nước mắt…Lần đó chính tôi phải trằn trọc thao thức để tự soi mình. Mình được học hành nhưng thua xa em gái nhỏ, có gì mình bằng em, mình đã làm được gì cho cha mẹ, cho gia đình và cho em gái yêu cả một đời cực nhọc...

Bây giờ, em tôi vẫn dung dị sớm hôm phụng dưỡng cha mẹ ngoài Huế. Mẹ tôi không là mẹ đẻ mà em chẳng chút bận lòng. Còn chúng tôi, khi nào cũng chính chính hầu hầu; mẹ cả mẹ hai…Những lúc nghĩ về em tôi nghe nặng lòng... Chị xấu lắm, dở lắm, tệ lắm… Chị chỉ nói hay nhưng làm dở. Tới tuổi này chị mới thấu hiểu trong muộn màng. Ân tình em gái sao mà sâu nặng. Chị tự hứa với lòng- làm gì để trả? Tháng năm… lần lữa…tháng năm… lần lữa…em ơi, làm gì để trả…mà có bao giờ trả được đâu! Hỷ xã, tha thứ cho chị phải không em gái?

-------------------------------------------------------------------------------------
Nguyễn Thị Hồng Điệp
Công ty Scavi Bảo Lộc, 116 Phan Đình Phùng, Bảo Lộc, Lâm Đồng

Thứ Tư, 24 tháng 6, 2009

Truyện ngắn- Trần Văn Thưởng


Truyện ngắn rất ngắn của Trần Văn Thưởng.

Phong thư cũ

Tặng D.H

Người đàn ông đưa tay rút núm dây điện ra khỏi đầu bugi, tắt máy và đẩy chiếc ba gác vào đậu trong một góc sân. Lúc đó khoảng 10 giờ tối.


Việc làm tiếp theo đã trở nên quen thuộc mỗi ngày của người đàn ông là đi tắm, sau đó vào chạn bếp lục cơm nguội. Vừa nhai nhấm nhẳn, anh vừa điểm lại những chuyến hàng đã đi được trong ngày, thầm lên lịch chóng vánh cho ngày hôm sau, điểm anh sẽ dừng lại nghỉ và ăn trưa ở đâu.


Người đàn ông lên gác, trên tay cầm ly trà xanh. Vừa tợp một vài ngụm trong lúc dượm chân bước lên từng bậc gỗ, anh vừa hít khà một cách đầy sảng khoái. Ngang qua căn phòng nhỏ khép hờ, anh biết chắc thằng nhóc con anh đang ôm mẹ ngủ ngon lành sau khi xem xong chương trình tivi “Chúc bé ngủ ngon” cách đó bốn mươi lăm phút, dù anh không cần nhìn vào bên trong. Nếu là hôm khác, anh sẽ hé cánh cửa ngắm vợ con qua chiếc màn tuyn. Qua ánh sáng lờ mờ hắt ra từ chiếc đèn chụp đặt trên chiếc tủ con, anh sẽ thấy thằng bé gác chân qua một bên mình mẹ, bên kia là chiếc gối ôm. Thỉnh thoảng, nó cựa mình, nằm ngay ngắn, khuôn mặt điềm nhiên tựa đóa sen.


Cảnh tượng đó quen thuộc với người đàn ông đến đỗi chúng như một clip phim ngắn diễu qua tâm trí trong lúc anh bước từng bước về căn phòng kế bên, nhẹ nhàng đẩy cửa bước vào và bật đèn ngủ lên. Anh đến bên chiếc tủ quần áo, khẽ mở cửa. Lôi từ bên trong ra một chiếc hộp gỗ.

Anh lần lượt vét tiền từ các túi áo, quần. Và ngồi bệt xuống sàn, vừa vuốt những tờ tiền còn thấm mồ hôi, vừa đếm cẩn thận như một viên kế toán cửa hàng bán lẻ. Năm phần sáu số đó anh để riêng ra, sáng hôm sau sẽ đưa cho vợ. Phần còn lại anh cho vào chiếc phong thư sờn cũ. Gấp nắp lại. Và nhìn nó. Như nhìn một kỷ vật. Và đặt nó lại vào trong chiếc hộp gỗ. Sau đó đem cất vào dưới đáy chiếc tủ quần áo đúng vị trí cũ.


Những cảnh đoạn rời rạc và thầm lặng đó đã lập đi lập lại như một điệp khúc diễn ra suốt nhiều năm nay trong căn phòng nhỏ, thế giới riêng bất khả xâm phạm của người đàn ông. Giây phút đó là cao trào của một bản nhạc mà người nhạc sĩ kiêm ca sĩ chính là anh. Để mỗi khi mở ra phong thư cũ, đặt thêm tiền kiếm được hằng ngày vào đấy, thấy nó dày lên một chút, anh hồi hộp vui sướng như khoảnh khắc hồi trẻ sắp được gặp mặt người yêu. Hay như cách nói của Putin vào những ngày cuối cùng trước khi mãn nhiệm: “Gần tám năm qua, tôi đã làm việc như một người nô lệ”. Và anh thêm: “Nhưng là một nô lệ sung sướng nhất trần đời!”

* * *

Một buổi chiều như mọi chiều tại nhà hàng Salamat.

Bà chủ nhà hàng hờ hững ra ngoài tiếp khách sau lời nhắn của nhân viên. Đó là một người quen cũ. Bà tỏ ra vui vẻ.

- Lâu quá không gặp thầy!

- Tui cũng vậy. Dạo rày trông cô hơi đẫy ra.

- Già rồi thầy.

- Bậy nào. Tui có quà cô cho đây.

Người đàn ông lấy từ trong túi ra một phong thư, trao cho người đàn bà, đoạn ghé sát vào tai nói nhỏ.

- Thằng Hùng gửi đó. Nó nói tui phải đưa tận tay, tránh để chồng cô biết.

Đó là chiếc phong thư được làm bằng loại giấy tốt, dài và lớn, lịch lãm theo kiểu Tây. Nó thoáng gợi cho người đàn bà một chút sương khói ngày xưa qua hình ảnh quen thuộc mà rất lâu rồi bà không còn nhìn thấy.

- Thầy đợi tôi chút.

Bà hồi hộp mở nắp phong thư. Bên trong là hai cái phong thư nhỏ, giấy sờn cũ, kiểu phong thư học trò thường dùng thời mười năm trước đây. Cả hai chiếc đều dày cộp. Mở ra bà thấy trong đó đựng tiền. Và không còn thứ gì khác, thậm chí không có cả một mẩu giấy lưu vài dòng trên đó gửi cho người nhận.

- Anh ấy có nhắn gì không thầy?

- Nó chỉ nói rằng, lẽ ra nó đã gửi trả cho cô sớm hơn. Nhưng nó kẹt lo sửa nhà cho ông bà già trên Củ Chi, nên đến giờ này …

Câu nói bỏ lửng ở đó, và người khách cáo từ ra về.

* * *

Sau thoáng ngẩn ngơ, người đàn bà lần hồi nối lại mạch câu chuyện đã bị đứt đoạn hơn mười năm về trước. Bà không tin rằng người đàn ông đã rất xa của bà vẫn còn nhớ và giấu mặt mà kể lại với bà một cách rành mạch câu chuyện đời họ bằng những chiếc phong thư không lời.

- Cho cô hai ly vang ở bàn số 8 nghe cưng!

Ngồi vào chiếc bàn nằm sát góc nhà hàng, người đàn bà vừa nhâm nhi từng giọt rượu vang sóng sánh, vừa ngắm dòng người xuôi ngược qua ô cửa kính. Rượu làm tâm hồn bà bừng nóng.

Bà vẫn nhớ rất rõ, phong thư lớn trang nhã là kiểu phong thư mà ngày trước chàng thường dùng để viết cho bà những lời bay bướm bằng nét mực Parker. Còn loại phong thư nhỏ, giấy xỉn màu, sờn cũ là kiểu cách của bà.


Nhưng giờ đây, thay vì chứa những nét chữ quen thuộc, trong hai chiếc phong thư cũ ấy lại đựng tiền, đúng bằng số tiền chàng đã mượn để lo cho hai đám cưới của hai người em cách nhau trong vòng nửa năm, sau khi hai người giận dỗi chia tay nhau, người ấm ức lên xe hoa, kẻ đau đớn về chốn lạ. Bây giờ, bà mới hối hận vì khi đó đã trót nghĩ thấp về chàng, tình mới dứt chưa lâu đã quay lại quỳ gối van vỉ đàn bà. Tiền! Cuối cùng cũng không vượt qua chữ tiền! Ha ha!


Sau đó ít lâu, qua người bạn vừa rồi, bà mới biết về tình cảnh của chàng. Căn bệnh trầm trọng của người mẹ đã nhanh chóng biến tương lai của chàng sinh viên đợi kỳ tốt nghiệp trở thành người phu ba gác khắc khổ, rồi bị hút vào vòng xoáy của gia đình, vợ con trầm lụy.


Nhưng cũng vừa mới đây, bà đã được gặp lại người đàn ông đã xa của đời bà trong hình ảnh tươi trẻ vĩnh cửu ngay vào giờ phút bà nhìn thấy những chiếc phong thư cũ.

Thứ Hai, 25 tháng 5, 2009

Bút ký



MẠ ƠI!

Lê Quang Kết

Tôi đã đọc đâu đó một điều giản dị về mẹ: Anh lớn bao nhiêu tuổi, làm nên biết bao công trạng nhưng trước mẹ anh cũng chỉ là đứa con bé nhỏ vụng dại như ngày xưa mẹ yêu thương- mẹ nâng niu bú mớm dỗ dành…Mạ tôi năm nay đã cận kề tám mươi còn tôi đang bước vào lục thập, vậy mà tôi vẫn vô tâm an nhiên như không hề gì - đến nỗi chưa làm điều gì dù nhỏ cho mạ vui.

Tệ bạc đến thế chăng? Mạ không còn lâu với ông nữa đâu- ai đó thầm nhắc thúc giục… Lần này lòng dặn lòng phải nói đôi điều về Mạ Yêu Dấu…


Tôi sinh ra lớn lên ở quê ngoại, một làng nhỏ ven sông Bồ thuộc huyện Quảng Điền, Thừa Thiên. Ba tôi đi tập kết. Mạ nuôi tôi trong khổ cực với nghề hàng xáo nhỏ. Ngày đó làm hàng xáo nhọc lắm. Cứ chiều chiều mạ quang gánh hai chiếc thúng đi mua lúa, có khi xa tới năm bảy cây số. Về tới nhà chưa kịp nghỉ phải đổ lúa vào xay. Cái cối xay lúa thuở ấy giờ chỉ còn trong ký ức và gặp hiếm hoi ở các khu trưng bày làng cổ. Mất tới mấy tiếng kéo đẩy để xay xong bốn ang* lúa. Mệt lắm, cực lắm! Dân gian phải bật thốt lên thành ngữ “Xay lúa khỏi bồng em”. Tiếp tới là các thao tác: bộ**, sàng, giã, giần…Gần khuya công việc mới xong, sáng sớm mai mạ gánh gạo ra chợ bán, phần lời thường là dăm ba lon gạo mạ con đắp đổi qua ngày…Một mình mạ ngày qua tháng lại vất vả trăm chiều nuôi con chờ chồng ngày đoàn tụ…

Làm hàng xáo thiếu thốn trăm bề mạ cũng cố nuôi tôi ăn học. Con cố học dăm ba chữ để sau này đỡ vất vả, đời mạ đã không được học hành con phải bù đắp cái phần thiếu hụt kia. Có năm mạ gặp tai ương, một lần đi mua lúa ở nhà mụ Khóa bị chó cắn. Thuốc men chạy vạy nhưng vết thương cứ tái đi tái lại phải cả năm mới lành. Chiến tranh lan tới, làng quê tan tác, cuộc sống ngày càng khó khăn trên đôi vai bé nhỏ của mẹ. Ngày đó tôi mới xong bậc tiểu học.

Làng quê không yên, mạ con tôi bỏ quê lên Huế. Tôi đành phải nghỉ học. Thế nhưng với mạ- không thể thế được! Phải tiếp tục việc học dở dang? Làm gì để nuôi con ăn học giữa phố thị đông đúc nhiều người ít việc? Một phụ nữ nghéo khó, ít học- mạ tôi có thể làm gì ngoài việc chấp nhận cuộc sống giúp việc ở mướn. Mười năm đằng đẵng nhục nhằn làm người giúp việc để nuôi con nên người. Bước đường học vấn của tôi được trả giá bằng sự hy sinh vô bờ bến của mạ. Hình như cuộc sống giúp việc đã làm mạ tôi quen chịu đựng nhẫn nhục phục tùng, không muốn nhờ vả hay liên lụy đến ai. Tôi vào sư phạm và ra trường ngày đất nước thống nhất.

Mạ con tôi mừng mừng tủi tủi chờ ba trở về. Nhưng điều ngang trái đến với mạ khi biết ba có vợ con ngoài Bắc. Mạ lại cắn răng âm thầm chịu đựng. Khổ riêng mình mình chịu. Mạ không lời phàn nàn; lặng lẽ chấp nhận, lặng thầm cho số kiếp éo le . Hai mươi mốt năm ở vậy chờ chồng nuôi con giờ thành vô vọng. Mấy năm đó mạ ít nói ít cười...

Chuyện rồi cũng nguôi ngoai, mẹ quyết định về quê nội dựng căn nhà nhỏ. Mạ bảo nhỏ với tôi: “Lỗi chẳng do ai chỉ là chuyện lịch sử, đàn ông sống một mình sao đang. Tội cho ba con lắm… Giờ mạ già rồi về lo kỵ giỗ mồ mả và chăm sóc ông nội cho trọn bề dâu trưởng…”.


Hơn ba mươi bốn năm rồi tôi vẫn chưa về với mạ, chỉ thưa thớt mấy bữa phép năm; chưa một ngày phụng dưỡng. Đứa con bất hiếu cứ mãi bôn ba chen chúc lợi danh, bao lần thay đổi chỗ ở chỗ làm, bao toan tính cho gia đình vợ con, cố tìm cho mình nơi chốn yên lành… Nơi quê nhà, mạ ngày càng luống tuổi. Vu Lan sắp tới con có còn được cài nụ hồng trên ngực? Cái ngày con xa mạ đang gần. Câu chuyện ngày trước trong câu hò xứ Huế làm tôi lo âu chạnh buồn. Chuyện rằng: Có đôi vợ chồng nghèo khổ ngày mẹ mất họ chỉ lo ma chay qua quýt, câu hò họ ước nguyện trước bàn thờ vong linh mẹ : “… Hò ơ ơ ơ…Bên ướt mẹ nằm bên ráo con lăn/ Ôi… lấy chi đền nghĩa khó khăn/ Thôi… hai đứa mình lên non xắn đá xây lăng mà phụng thờ…”.

Biết con có làm được điều ấy hay không, mạ ơi?


* ang: từ địa phương một dụng cụ để đong lúa khoảng 16 kg.
**bộ: từ địa phương, cách làm cho trấu ra ngoài còn lại gạo.
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Thứ Bảy, 23 tháng 5, 2009

Tản văn...Hoa





Tản văn

HÃY NÓI ĐIỀU ẤY BẰNG HOA

Leâ Quang Keát

Bieåu töôïng cuûa hoa coù töï ngaøn xöa- coù leõ ñaõ xuaát hieän cuøng luùc vôùi nhöõng rung ñoäng ñaàu tieân trong traùi tim ngöôøi. Nhöõng böùc thö tình khoâng coøn thích hôïp ñeå baøy toû caûm xuùc cuûa con tim thì thoâng ñieäp hoa seõ laø giaûi phaùp tuyeät vôøi nhaát cho nieàm mong öôùc- cho moái giao hoøa- cho lôøi daïm ngoõ vaø tình yeâu ñoâi löùa…

Hoàng- khoâi nguyeân trong caùc loaøi hoa, chieác laù töôi xanh nhaát, maøu saéc röïc rôõ nhaát, höông thôm tinh teá nhaát. Truyeàn thuyeát Hi Laïp keå raèng: Aphrodite- vò nöõ thaàn tình yeâu ñöôïc sinh ra töø bieån, caùc ñôït soùng traéng baïc ñaàu bao phuû laáy thaân traàn cuûa naøng vaø hoùa thaønh boâng hoàng traéng khi rôi xuoáng ñaát. Vaø chính nöõ thaàn ñaõ laøm màu trắng hoa thaønh hoàng ñoû… Chaøng trai Adonis ñeïp trai maø naøng yeâu bò moät chuù lôïn loøi taán coâng- ñeå cöùu chaøng, naøng lao nhanh vaø bò gai hoàng caøo xöôùc, maùu naøng ræ ra ñaõ laøm maøu traéng thaønh hoàng. Tình yeâu nhö moät ñoùa hoàng, loaøi hoa haïnh phuùc nôû trong vöôøn ñoài. Nhöõng nuï hoàng ñoâng taây kim coå ñaõ ñính keát vöõng beàn cho bao lứa đôi tình yeâu haïnh phuùc…

Loøng anh nhö hoa höôùng döông/ Traêm nghìn ñoå laïi moät phöông maët trôøi”- ngöôøi ta laïi möôïn ñaëc tính cuûa hoa ñeå baøy toû taám loøng. Hoa noùi ñöôïc bao ñieàu maø caùc thöù khaùc khoâng theå coù ñöôïc. Hoa cuùc chaúng haïn? Khi caùc loaøi khaùc ñaõ ngöng nôû, gioù vaø möa thu baét ñaàu rôi thì cuùc laïi ñôm boâng kết cánh. Phaûi chaêng hoa cuùc muoán noùi lôøi : Laïc quan vui veû trong nghòch caûnh. Coøn caåm chöôùng ? Coù truyeàn thuyeát cho raèng töï xa xöa caåm chöôùng ñöôïc troàng treân thieân ñöôøng roài rôi xuoáng traàn gian. Neáu caåm chöôùng bò töôùc heát laù seõ laø bieåu töôïng cuûa söï choái töø thì caåm chöôùng ñoû laø “ toäi nghieäp cho traùi tim toâi” coøn caåm chöôùng vaøng laïi laø söï đố kỵ chaùn gheùt…

Hoa löu ly bieåu tröng cho moät tình yeâu chaân thaät. Nhöõng caùnh löu ly xanh tím nhoû gaén lieàn vôùi caâu chuyeän beân bôø soâng Danube. Chaøng hieäp só vôùi ngöôøi yeâu treûû daïo böôùc doïc bôø soâng. Boãng coâ nhìn thaáy moät chuøm löu ly troâi treân doøng nöôùc- naøng buoät mieäng keâu leân : Em muoán coù boâng hoa xinh ñeïp kia? Chaøng hieäp só lao nhanh xuoáng doøng nöôùc, do vöôùng söùc naëng cuûa boä giaùp- chaøng ñuoái söùc, anh neùm hoa leân bôø cho ngöôøi yeâu vaø trong hôi thôû luïi taøn anh buoâng lôøi traên troái: “xin ñöøng queân nhau”…

Vaø ngoân ngöõ hoa có hằng haø sa soá- thieân hình vaïn traïng những cảm xúc khó nói nên lời. Vôùi ngöôøi Ñaø Laït, hoa còn chứng kiến tình yêu hạnh phúc – niềm vui nỗi khổ và bao lựa chọn lo toan khác giữa cuộc đời… Tulip- lôøi baøy toû tình yeâu; Violet- tính khieâm toán söï chung thuûy; Peneùe- vaät kyû nieäm, ngöôøi hôùp hoàn toâi hay Thuûy tieân- vò kyû chæ yeâu rieâng mình; Vaïn thoï- noãi thaát voïng, söï ñau buoàn; hoa Haïnh ñaøo noùi söï chôø ñôïi thaàm laëng moûi moøn…

Moãi loaøi hoa ñeàu coù ngoân ngöõ rieâng cuûa chuùng. Ngoân töø coù khi khoâng theå ñaït tôùi söï tinh teá cuûa yù nghóa cho baèng moät loaøi hoa cuûa moät muøa hoa. Tuøy thuoäc vaøo söï saùng taïo theo caùch rieâng cuûa ngöôøi göûi, tuøy vaøo söï ña daïng cuûa caùc loaøi hoa coù theå coù ñöôïc- moãi ngöôøi seõ coù nhöõng khaùm phaù baát ngôø thuù vò veà hoa vaø thoâng ñieäp töø hoa…

Leâ Quang Keát

Thứ Năm, 14 tháng 5, 2009

Ngông Cuồng

Tuổi Trẻ Cười
Thứ Năm, 14/05/2009, 06:11 (GMT+7)

Nguyễn Công Trứ “chọi” thơ với Cao Bá Quát

TTC - Ông “ngông” Nguyễn Công Trứ thỉnh thoảng lại gặp gỡ ông “cuồng” Cao Bá Quát, xem chừng cũng tâm đắc lắm. Một lần hai ông vừa đi vừa đàm đạo văn chương, bỗng có tiếng người trong xóm hát câu ca dao:

Đang khi lửa tắt, bếp vùi
Lợn con kêu khóc, chồng đòi tòm tem!
Bây giờ lửa đỏ bếp nhen
Lợn ăn, con ngủ, tòm tem thì tòm!

Cả hai ông chịu là câu ca dao thật lý thú, rồi thách nhau mỗi người làm một bài thơ diễn đạt cũng cái ý trên nhưng bằng cách của mình.

Ông Trứ đọc trước:

Những lúc vội vàng, chàng cũng muốn...
Bây giờ thong thả, thiếp xin vâng...

Ông Quát cười:

- Thơ bác cũng khá đạt đấy, nhưng chưa “quái chiêu”, lại thừa mất mấy chữ!

- Thế theo ý bác thì nên viết thế nào?

- Theo ngu ý tôi, ta nên viết thế này:

Những lúc vội vàng, gượm!
Bây giờ thong thả, nào!

Ông Trứ vỗ đùi đánh đét:

- Phải!

TTC

Tuổi Trẻ Cười số 378 (ra

Thứ Tư, 6 tháng 5, 2009

Tình lá, duyên quê - Tạp bút của Trần Văn Thưởng

Tạp bút:

TÌNH LÁ, DUYÊN QUÊ

Trần Văn Thưởng.


Ai có ra Huế, cho tôi gửi theo một chút tình! Tôi đã nhận từ người con gái sông Hương chiếc nón bài thơ khắc ghi kỷ niệm những ngày tôi lang thang tìm em trên đất Huế. Tôi còn biết đáp lại gì đây, ngoài một chút tình vương vít trong hồn tôi sau ngày xa Huế? Chếnh choáng từ khúc dạo đầu trên mạng, ngỡ ngàng trong buổi sơ giao nơi đất khách, rồi ngùi ngùi từ độ biệt nhau kẻ cố đô người đất mới. Nón em tặng tôi, hỡi em, làm sao mà đội cho vừa niềm nhớ. Ở ngoài kia, vành nón rộng che khuất bờ vai em, lấy gì để tôi nhìn gương mặt em ngày mưa hôm nắng?


Tôi thật bối rối mỗi khi có ai đó hỏi: “Nón ai?”. Tình thật, nón của trời, nón của mộng. Những đêm dài, tôi lấy nón ra so. Này là giọt nắng, này là giọt mưa, còn này là giọt mồ hôi em. Trên mỗi nếp lá, mỗi nang vành, tôi đều nhìn thấy em. Lá nón thì bạc nhưng lòng cô thợ nón hãy còn son.


Tôi lại hỏi, ai đã tình khi nghĩ ra chiếc tình...tình lá? Câu thơ ép giữa hai lớp lá trong chiếc nón bài thơ là thơ...hay là tình? Thơ thì không phải. Vậy ra nón cũng có tình, giống như tình của cái trống cơm “Khi buồn vỗ cái quên buồn...”


Không biết vào thời của ông Bùi Quang Bặc, người được xem là cha đẻ của sản phẩm nón bài thơ nổi tiếng xứ Huế từ hơn bốn mươi năm trước, thơ trong những chiếc nón lá là thơ như thế nào: thơ tình, vịnh cảnh hay thậm chí chỉ là thơ vè? Còn cô thợ nón khuyết một bàn tay ở Phú Cam tôi đã gặp thì tự tình: “Cái ni mà người ta cũng gọi là thơ!”. Nhưng đều đặn mỗi ngày qua gần suốt ba mươi năm, cô góp nhặt từng vần điệu ráp thành “cái người ta gọi là thơ”, rồi ép vào trong nón lá. Không thơ trong chiếc nón lá, nhưng mỗi lời trong đó như ẩn giấu một điều bí mật nào đó mà người làm nón đã gửi gắm vào. Hay, phải chăng công việc của cô mới chính là thơ?


Tôi nghĩ cô không bận tâm lắm đến những mỹ từ đó. Những người phụ nữ bình dị như cô chỉ có “Bàn tay xây lá, tay xuyên nón” (*) từ ngày này sang ngày nọ, từ nỗi này sang nỗi kia qua suốt cả thời thanh xuân. Đó cũng là cách mà những thôn nữ Huế báo cho mọi người biết sự có mặt thầm lặng của mình trên cõi đời. Và, như Decarter của thế kỷ Ánh Sáng từng nói rằng: “Tôi tư duy nghĩa là tôi tồn tại”; cũng vậy, những thôn nữ Huế quanh năm nhọc nhằn với nghề làm nón: “Tôi chằm nón nghĩa là tôi tồn tại!”. Chừng nào vẫn còn người biết yêu quý đôi tay mình, nghề mình thì chừng đó nghề thủ công truyền thống này mãi còn. Tôi tin như vậy.


Còn em, hỡi cô thôn nữ bên dòng Hương Giang, em đã tự nhìn ra mình chưa vào mỗi buổi mai thức dậy đón vầng dương gối ánh hồng trên đỉnh Ngự Bình, hay mỗi chiều tà thả chiếc nón mang theo điều ước miên man trôi trên dòng nước lững lờ không hẹn điểm cùng? Tôi cần chi tìm thơ hoà điệu với hồn. Nghiêng nón của em cùng với tà áo dài, dù có hơi cũ một chút, đã là hai nửa của một câu lục bát liền vần. Tự bao giờ đã thế, đến tận bây giờ cũng thế. Đó là cái tình...tình lá, nét duyên...duyên quê.


Cám ơn tình em, chiếc nón. Tôi đã không tin vào mắt mình khi nhận chiếc nón lá mong manh mà em đã gửi trọn tuổi thanh xuân của mình vào đó. Một phiên khúc âm trầm trong bản hoà ca rộn ràng vào thời đại số. Chắc hẳn ngày xưa mẹ em cũng đã tình cái tình lá với một ai như em dành cho tôi bây giờ? Ngày xưa-bây giờ, ai người đan vành, ai người xây lá. Chẳng phải em đã bảo muốn được người thương thì cứ về làng nón đan vành để người gái quê xây lá nên duyên đó sao?


Bao giờ thì điều bí mật trong chiếc nón bài thơ hiển lộ? Mãi mãi. Rứa thì cần chi phải soi nắng tìm thơ. À ơ, ai về Diên Đại, Hương Sơ, ghé ngang Phú Mỹ, xuôi về Thuỷ Vân! (**). Về nhé, bởi bây chừ “Vẫn còn núi Ngự bên bờ Hương Giang”.


Rồi thể nào tôi cũng trở lại Huế tìm em. Đó sẽ là một cuộc kiếm tìm hoài vọng nhưng vô cùng thích thú khi lang thang vào những làng nón thấy mọi phụ nữ ở đó đều có thể là em, em của những năm trước và em của nhiều năm sau. Tôi như tìm thấy cuộc đời trong mỗi chiếc nón lá từ làng quê em. À ơi, bà em đã gắn cả cuộc đời vào “nghiệp nón”, rồi mẹ em cũng chẳng phải đã đi gần hết một đời với nghề xây lá đó sao. Làm nón là nghề của một đời người và nón lại mang nhiều cuộc đời. Từ Phú Hồ, qua Diên Đại, đến Dạ Lê, rồi Phú Cam (**), đâu đâu tôi cũng gặp những cuộc đời như thế. Đó là một dòng chảy bất tận, như nước của dòng sông “có mùi thơm” trên miền quê em, khi ở đó sự sống không ngừng luân chuyển qua nhịp điệu bàn tay xây lá và xuyên nón trải dài từ thế hệ này sang thế hệ khác.


(*) Thơ Nguyễn Khoa Điềm

(**) Tên những làng nghề làm nón lá truyền thống của Huế

Thứ Năm, 16 tháng 4, 2009

Đoàn Vị Thượng viết về TCS

Hai “cái tôi” của Trịnh Công Sơn - Chủ nhật, 29/3/2009, 10:31 GMT+7

"Tôi ơi đừng tuyệt vọng” là một cách nói lạ, vì ngoài Trịnh Công Sơn, trước đây hầu như trong ngôn ngữ văn học nói chung, ca từ nói riêng, chưa có ai tự kêu “tôi” như thế.

Cũng như bao “cách nói” khác của nhạc sĩ, người ta dễ dàng chấp nhận câu hát đó vì sức thuyết phục một cách linh mẫn trong ngôn ngữ riêng của ông, như nó đã luôn làm được như thế. Nhiều nhà thơ sau đó cũng hay “gọi tôi” trong các câu thơ của mình, coi đó thuần túy chỉ như một lối xưng hô, như khi ta cất tiếng gọi một ai đó vậy thôi.

Nhưng, Trịnh Công Sơn không phải là kẻ lập dị trong ca từ, thực ra, trong tâm thức của ông luôn có một “cái tôi” hằng hữu khác nhìn ngó “cái tôi” hiện thực đang sống. Và khi ông gọi “tôi” chính là cái tôi kia đang gọi cái tôi này, giống như một người đang gọi một người, ta đang gọi một kẻ khác.

Đi tìm “cái tôi” bất biến


Trong triết học Ấn Độ có một khái niệm về đại ngã, trong Phật học có một khái niệm về chân thân hay bản lai diện mục. Với âm nhạc, Trịnh Công Sơn đã một mình tự làm một triết học, tôn giáo học cho riêng mình. Tiếng gọi tôi của ông luôn là một cuộc hoài hương tha thiết đêm ngày hòng tìm lại cái tôi đó giữa “cõi tạm” trần gian mà ông đang sống. Tôi đi tìm ngày tìm đêm lâu dài một hôm thấy được đời tôi (Tự tình khúc).

Một lần bóng núi in bên sông dài một lần thấy bóng tôi (Một lần thoáng có). Ông là người, không phải là núi, nhưng thấy núi lại thấy mình, ấy là vì có một “cái tôi” khác của ông mang bản thể núi - vững vàng hơn vô lượng lần cái thân thể lau sậy mình đang có - như bất động trước những làn gió rối của thời đại. Nhưng nói “thấy được đời tôi” chỉ là một cách tự khuyến khích mình, nhủ mình rằng “tôi ơi đừng tuyệt vọng” đó thôi, nó chỉ mới là một sự lần ra manh mối đường về chứ chưa “về” thật sự.

Nó vẫn còn là một giấc mơ xa vắng và ông vẫn còn lận đận lắm trong cuộc hồi hương mờ mịt cuối ngõ cuối trời này: Tiến thoái lưỡng nan đi về lận đận. Về đâu cuối ngõ về đâu cuối trời. Xa xăm tôi ngồi tôi tìm giấc mơ. Xa xăm tôi ngồi tôi tìm lại tôi (Tiến thoái lưỡng nan). Không tìm thấy được cái tôi đó, mỗi ngày ông đều buồn bã thấy: Hôm nay thức dậy ôi ngẩn ngơ tôi. Hôm nay thức dậy mê mỏi thân tôi (Xa dấu mặt trời) là vậy.

Có những lúc tuyệt vọng thật sự, ông cất tiếng than van: Còn bao lâu cho thân thôi lưu đày chốn đây. Còn bao lâu cho thiên thu xuống trên thân này. Còn bao lâu cho mây đen tan trên hồn người. Còn bao lâu tôi xa anh xa em xa tôi? (Phúc âm buồn). Ta hiểu vì sao ông nói “xa anh xa em”, và rồi cả “xa tôi” nữa. Vì những “cái” anh, em và tôi kia đều cũng chỉ là một, là “cái tôi” hiện sinh phù du, còn ông, ông muốn trở về với “cái tôi” hằng hữu bất biến nào đó của mình kia.

Cái tôi đó có khi hiện thân là một Con mắt còn lại nhìn cái tôi phù trầm này một cách thương cảm: Con mắt còn lại nhìn cuộc đời tôi. Nhìn tôi lên cao nhìn tôi xuống thấp. Con mắt còn lại là con mắt ai. Con mắt còn lại nhìn tôi thở dài.

Những tiếng thở dài như thế có giá trị như một lời an ủi, một sự khuyến khích, động viên mà chỉ có Trịnh Công Sơn mới nghe ra (chữ ông hay dùng, như một bí nhiệm) để tiếp tục lên đường tìm về cố quận, dù dâu bể thời gian và cuộc đời có như bão tố điên cuồng phá hủy thân xác lau sậy mình: Xuân hạ thu đông bốn mùa làm tóc trắng. Tôi gọi tên tôi khắp chốn non ngàn. Tôi dìu tôi đi giữa trời lên bão tố. Xuân hạ thu đông theo gót chân hờ (Dã tràng ca). Quả thật, với một người đang riết róng tìm về với một tiếng gọi nào đó dành cho riêng mình, thời gian đi theo “nó” chỉ là những “gót chân hờ”mà thôi.

Và tiếng gọi riết róng kia chính là một cái tôi trên cao đang ra sức dìu dắt, nâng đỡ cái tôi dưới thấp đi xuyên qua mịt mùng thân phận người. Ở đây, một lần nữa, ta lại phải khen thiên tài sử dụng chữ nghĩa của ông! Và nói thêm, đã có nhiều thi sĩ cũng bắt chước ông gọi tên mình, nhưng là gọi cái tên hiện sinh (dễ đặt và dễ thay đổi) của họ thật, chứ không phải “cái tôi” này gọi “cái tôi” kia như của Trịnh: Tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ. Thanh Tâm Tuyền.

Nói cách khác, cái tôi trên cao ấy là một tên gọi khác của cội nguồn, nơi ông luôn muốn lần về. Vì vậy, đang khi sống, dù là giữa hội hè, ông vẫn luôn tự cảnh báo: Tôi vui chơi giữa đời ối a biết đâu nguồn cội. Cây trưa thu bóng dài và tôi thu bóng tôi. Tôi vui chơi giữa đời ối a biết đâu nguồn cội. Tôi thu tôi bé lại làm mưa tan giữa trời. Những cái tôi là núi, là bóng cây, là mưa đó cơ chừng là miên viễn, là “lời thiên thu gọi”, là những hóa thân thăng hoa cho cái tôi lau sậy buồn, dễ và chóng tan rã.

Tan giữa hư không

Vào giờ ngọ một ngày đầu mùa hè 2001, Trịnh Công Sơn đã làm một cuộc chuyển di từ cái tôi này sang cái tôi kia thênh thang. Hệt như ông đã tiên lượng trước, cũng là hò hẹn trước bao lâu nay, trong những lời kinh tự khấn Ra đồng giữa ngọ, từ năm 1974: Thằng bé xinh xinh ra đồng giữa ngọ. Miệng môi hồng đỏ như đóa hoa vông. Hoa vông mùa hè lập lòe thinh không. Hoa vông chào mừng mùa hè thênh thang (...) Thằng bé xinh xinh ra đồng giữa ngọ. Ngờ đâu hội ngộ tan giữa hư không. Tan trong trời hồng làm giọt mưa trong. Tan trong cội nguồn. Một lần nữa, ta thấy, ông lại khấn nhắc về cái tôi là giọt mưa trong và tan trong cội nguồn. Ông đã về thực sự.

Nhưng còn cái tôi hiện sinh lau sậy vừa quá vãng kia, ông làm gì với “nó”? Thì ông lại lấy cái tôi vừa hóa thân “an ủi” lại nó: Xin ngủ trong vòng nôi. Ta ru ta ngậm ngùi. Xin ngủ dưới vòm cây (Ru ta ngậm ngùi). Chỉ có người này mới ru được người kia, nhưng Trịnh Công Sơn, nhờ có hai cái tôi, đã ru được chính mình. Vòng nôi chính là cánh tay mẹ và mẹ ông vẫn đang tiếp tục “ru” thân xác ông - cái tôi mà bà đã sinh ra - trong nghĩa trang Gò Dưa, nơi ông nằm cạnh mẹ. Và cái vòm cây ông đang nằm dưới đó, nó cũng lại thu bóng cùng ông, hệt như đã hứa với nhau, trong câu hát ngày nào thuở sinh thời: Cây trưa thu bóng dài và tôi thu bóng tôi.

Theo Đoàn Vị Thương
nguoilaodong.gif