ĐẶNG TIẾN
NTT: Bài “Đời và nhạc Trịnh Công Sơn” được viết 4.2001, nay đã được nhà văn Đặng Tiến sửa chữa và bổ sung (hôm qua). Chúng tôi xin đăng nguyên văn, coi đây là bản chính thức của tác giả.
Trịnh Công Sơn chánh quán Huế, làng Minh Hương, tổ tiên gốcTrung Hoa. LàngMinh Hương nay sát nhập vào Bao Vinh thành xã Hương Vinh. Bao Vinh là thương cảng của Huế ngày xưa.
Anh sinh ngày 28 tháng 2 năm 1939, tại Lạc Giao, tỉnh Ðắc Lắc, lớn lên trong một gia đình buôn bán giữa trung tâm thành phố Huế. Nhà đông anh chị em, ba trai năm gái, mà anh là con trưởng. Tuy có thăng trầm, nhưng nói chung là khá giả.
Trịnh Công Sơn "Tuổi đá buồn" - Tranh của Bửu Chỉ (Sưu tập Nguyễn Trọng Tạo, 50x80cm - phiên bản duy nhất)
Trịnh Công Sơn theo học chương trình Pháp, tại Trung học Pháp tại Huế, đến hết cấp 2. Năm ấy, 1955, cùng lớp có ca sĩ Kim Tước (Giáo sư Decoux, dạy khoa học, thỉnh thoảng mang đàn vĩ cầm vào lớp, đàn đệm cho học sinh hát). Lúc này Trịnh Công Sơn chơi guitare đã hay. Trường giải thể, dời vào Ðà Nẵng, Trịnh Công Sơn có lúc theo học trường Thiên Hựu, Providence ở Huế. Rồi chuyển vào Sài Gòn, học tại trường Taberd, hay Jean Jacques Rousseau.. gì đó. Sau đó vào học trường Sư Phạm Quy Nhơn, rồi đi dạy học vài năm tại Lâm Ðồng.
Anh tự học nhạc một mình, và đã kể lại:
“Thưở ấy, tôi là một đứa bé thích ca hát. Mười tuổi biết solfège, chép lại những bài hát yêu thích đóng thành tập, chơi đàn mandolin và sáo trúc. Mười hai tuổi có cây đàn guitare đầu tiên trong đời và từ đó sử dụng guitar như một phương tiện quen thuộc để đệm cho chính mình hát.
Tôi không đến với âm nhạc như một kẻ chọn nghề. Tôi nhớ mình đã viết những ca khúc đầu tiên từ những đòi hỏi tự nhiên của tình cảm thôi thúc bên trong… Ðó là những năm 56 – 57 , thời của những giấc mộng ngổn ngang, của những viễn tưởng phù phiếm non dại. Cái thời tuổi trẻ xanh mướt như trái quả đầu mùa ấy, tôi rất yêu âm nhạc nhưng tuyệt nhiên trong tôi không hề gợi lên cái ham muốn trở thành nhạc sĩ… Dạo ấy ba tôi đã mất …”
Những câu hỏi người tò mò có thể đặt ra: một người chỉ học trường Pháp, giáo trình Việt ngữ rất hạn chế và lỏng lẻo, khi đặt lời ca, sao có thể sử dụng tiếng Việt điêu luyện đến như thế? Thỉnh thoảng anh viết truyện ngắn, tham luận, đều xuất sắc. Bạn bè nhận được thư riêng, đều nhớ rằng Sơn chữ đẹp văn hay.
Tự học đàn hát, rồi sáng tác một mình, Trịnh Công Sơn không thuộc một nhóm sáng tác nào, như những người đi trước, như Lê Thương, Hoàng Quý trong nhóm Ðồng Vọng ở Hải Phòng, như Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước trong nhóm Myosotis tại Hà Nội, nhóm Hoàng Mai Lưu tại Nam Bộ. Cũng như sau này, anh sẽ tự học vẽ một mình.
Câu hỏi tò mò thứ hai: tự học nhạc, rồi từ rất sớm đã lao mình vào đời sống sáng tác và tranh đấu, làm sao anh có thể liên tục sáng tác khoảng 600 ca khúc, phần lớn được yêu chuộng?
Nói rằng Trịnh Công Sơn là thiên tài, cũng dễ thôi. Nhưng trở thành thiên tài trên một đất nước như Việt Nam, được thừa nhận là thiên tài trong một xã hội như Việt Nam – nhất là sau cuộc đổi đời 1975 – thật không đơn giản.
Mục đích của bài này là thử tìm hiểu sự hình thành của thiên tài Trịnh Công Sơn, thử giải mã hiện tượng Trịnh Công Sơn và thử tìm hiểu vị trí của Trịnh Công Sơn trên những trầm luân của đất nước, chủ yếu là khúc quanh 1975.
Chúng tôi cũng muốn cung cấp cho các nhà nghiên cứu về sau một số tư liệu rải rác đây đó, e mai đây khó kiếm, khi những than khóc và tung hô đã lắng xuống.
*
Về hoàn cảnh sáng tác ban đầu, Trịnh Công Sơn đã tuyên bố với Vĩnh Xương, báo Ðất Việt, năm 1985: “Ðến năm 1957, tôi sáng tác, gọi là để bạn bè nghe chơi. Sau đó thấy có hứng thú sáng tác và thử viết thêm một số bài. Năm 1959, tôi viết bài Ướt Mi và được bạn bè khích lệ. Tôi mới tìm sách nghiên cứu thêm về nhạc, trao đổi thêm về nhạc lý với bạn bè. Sau đó, tôi phổ nhạc cho khoảng một chục bài thơ tình yêu (như Nhìn Những Mùa Thu Ði chẳng hạn). Năm 63, tôi có một số sáng tác khá thành công như Diễm Xưa, Biển Nhớ, Hạ Trắng. Từ đó, tôi đi vào con đường sáng tác” [1].
Và từ đó, Trịnh Công Sơn nổi tiếng.
*
Khi đặt câu hỏi: sao một thanh niên, rất trẻ, chỉ học ỏtrường Tây mà sử dụng tiếng Việt tài hoa đến vậy, tôi không có thành kiến – vì bản thân mình cũng chỉ học “trường Tây”- mà để tìm hiểu nguồn sáng tạo trong ngôn ngữ.
Trịnh Công Sơn, có lẽ – đây là giả thuyết dè dặt – không học nhiều văn chương Việt Nam được giảng dạy ở nhà trường thời đó, nên không bị nô lệ vào những khuôn sáo trường quy, không suy nghĩ bằng điển cố sẵn có, mà tạo được một hình thức mới cho lời ca. Lời ca ấy sử dụng nhiều hình ảnh, biểu tượng bị xé lẻ, đi thẳng vào tâm tưởng người nghe, mà không đòi hỏi họ phải hiểu nghĩa chính xác. Ví dụ bài Tình Sầu:
Tình xa như trời / Tình gần như khói mây /
Tình trầm như bóng cây / Tình reo vui trong nắng /
Tình buồn làm cơn say
… Cuộc tình lên cao vút / Như chim mỏi cánh rồi /
Như chim xa lìa bầy / Như chim bỏ đường bay /
Mạch lạc nội tại (cohérence organique) của ca khúc không dựa vào tương quan ý nghĩa: “tình như trời xa” thì hợp lý, nhưng gần, sao lại như “khói mây”? “Tình lên cao vút”, sao lại “như chim mỏi cánh rồi”? “Tình reo vui trong nắng”, thì phải đối ngẫu với “tình buồn cơn mưa bay” mới chỉnh, sao lại say sưa vào đây?
Thật ra, mạch lạc nội tại được cấu trúc trên hình thức ngôn ngữ: những từ lặp lại: tình, chim, như, những vần luyến láy: mây, cây, say, bay, những từ đối lập: xa/gần, vui/buồn. Hình ảnh nối tiếp nhau, không cần ăn khớp với lý luận, lại được tiết điệu, âm giai nâng đỡ, bay bổng, bay thẳng vào tâm tưởng người nghe.
Chúng ta thử so sánh, để tìm hiểu chứ không phân định hơn thua, một lời nhạc tương tợ của Ðoàn Chuẩn:
Gửi gió cho mây ngàn bay
Gửi bướm muôn màu về hoa
Gửi thêm ánh trăng màu xanh lá thư
Về đây với thu trần gian …
Hai ca khúc na ná, vì đều là ẩn dụ xâu chuỗi (métaphore filée), nhưng ca từ của Ðoàn Chuẩn được cấu tứ theo ngữ nghĩa và quy ước, theo điển cố: gió+mây, bướm+hoa, gió+trăng, trăng+thu. Nét mới là màu xanh lá thư bị xoá nhoè giữa những ước lệ được liên kết thành một xâu chuỗi kiên cố, chặt chẽ quá làm mất chất thơ. Thêm vào đó là những câu thất ngôn đường luật rất chỉnh chu:
Lá vàng từng cánh / rơi từng cánh
Rơi xuống âm thầm / trên đất xưa
Bài Gửi gió cho mây ngàn bay rất hay, nhưng hay một cách khác, đựơc yêu chuộng ở một giới thính giả khác.
Phạm Duy, thời trẻ, đã có những sáng tạo tân kỳ:
Buồm về dội nắng đôi vai
Bao nhiêu màu hoa ngát trên đôi môi
Tiếng Ðàn Tôi, 1947
Sau đó, anh trở về với ngôn ngữ duy lý:
Bao giờ em giở lại vườn dâu (hỡi em)
Là một câu thơ tuyệt vời: vườn dâu là niềm thương nhớ muôn trùng một nền văn minh đã khuất bóng. Nhưng Phạm Duy lại bồi thêm câu sau
Ðể anh bắc gỗ xây nhịp cầu (anh) bước sang …
(Quê Nghèo, 1948)
Thì cái ý đã thu hẹp cái tứ. Câu hát trở thành thô thiển, và giới hạn âm vang.
(Tôi đã có dịp trình bày với anh Phạm Duy ý này, anh cười vui: thế à?)
Tác phẩmLê Thươnguyên bác cả nhạc lẫn lời, đã đựơc người đời yêu thích.
Trịnh Công Sơn sẽ không viết được những câu văn vẻ nhưLê Thương:
Bên Man Khê còn tung gió bụi mịt mùng,
Bên Tiêu Tương còn thương tiếc nơi ngàn trùng …
Hòn Vọng Phu
nhưng đã viết:
Ðàn bò vào thành phố
Reo buồn tiếng hạt chuông
(…)
Ðàn bò tìm dòng sông
Nhưng dòng nước cạn khô
Ðàn bò bỗng thấy buồn,
bỗng thấy buồn …
(Du Mục)
Những hình ảnh ngoài trí tưởng tượng của Lê Thương – ông vua đặt lời ca – theo sự đánh giá của Phạm Duy.
Ði vào nền tân nhạc với một tâm hồn mới mẻ, Trịnh Công Sơn đã dần dần xây dựng một nhạc ngữ mới, phá vỡ những khuôn sáo của nền âm nhạc cải cách, thành hình chỉ hai mươi năm về trước.
( Ghi chú cho ngày giỗ 01-4-2012: tính đến nay nhạc Trịnh Công Sơn đã thành công trong già nửa thế kỷ, và ngày nay còn đang được yêu chuộng, có lẽ ngoài kỳ vọng của tác giả và bè bạn thân thuộc, nhất định vì nhiều duyên do. Một trong những duyên do có thể là: nhạc Trịnh Công Sơn đáp lại một nhu cầu của xã hội và thời đại thiếu chất thơ. Nhạc và lời lấp một khoảng trống trong tâm thức con người giữa một xã hội duy lý, duy dụng, thô thiển và thô bạo. Nó vô hình trung mang lại chất thơ, nhu cầu mà ý thức và tiềm thức con người đòi hỏi. Bằng cớ là những đĩa hát, những quán nhậu… mượn tên ca từ Trịnh Công Sơn, như một thoáng mộng mơ. Nhà cầm quyền toàn trị ắt nhận ra điều này, nhưng tạm dung vì nó là một phương tiện giải tỏa và đền bù, không mấy, hay chưa thấy, phương hại. Điều này tôi đã cảm thấy và ghi nhanh vào thời 2001, nhưng thêm thời gian mười năm sau, tôi có thể xác quyết)
*
Trịnh Công Sơn tự học nhạc, chứ không được đào tạo theo hệ thống trường quy. Khi bắt đầu sáng tác, được khích lệ, mới “trao đổi nhạc lý với bạn bè”, anh không nói rõ là những ai.
Câu hỏi thứ hai người tò mò đặt ra là: học nhạc một mình, thì vốn liếng nhạc thuật lấy đâu ra mà sáng tác nhiều, nhanh và hay, như thế?
Nhiều người cho là tác phẩm anh đơn giản về mặt nhạc thuật, nói là nghèo nàn cũng được.
Văn Cao nhận xét: “Trong âm nhạc của Sơn, ta không thấy dấu vết của âm nhạc cổ điển, theo cấu trúc bác học phương tây. Sơn viết hồn nhiên như thể cảm xúc nhạc, thơ tự nó trào ra” [1].
Lối nhạc hồn nhiên, dung dị này lại đáp ứng lại với yêu cầu thời đại, theo Phạm Duy:
“Về phần nhạc, toàn thể ca khúc Trịnh Công Sơn không cầu kỳ, rắc rối vì nằm trong một số nhạc điệu đơn giản, rất phù hợp với tiếng thở dài của thời đại” [1].
Một thính giả bình thường, yêu quý Trịnh Công Sơn, đã viết sau khi anh qua đời: “Xét cho cùng, Trịnh Công Sơn là một nhà thơ. Một nhà thơ lớn. Nhạc là cái xe tải anh lắp lấy để chở thơ anh đến với chúng taõ (Vũ Thư Hiên, Varsovie, 4/2001). Nhận xét chưa chắc đúng nhưng tiêu biểu.
Dù cho rằng nhạc thuật đơn điệu, thì cũng phải thừa nhận tài năng, có phần học tập, có phần thiên phú. Hoa hồng đẹp là do cây hồng, nhưng cũng còn nhờ vào đất đai, phân tro, mưa nắng, người chăm sóc, thậm chí cần cả người ngắm, hoa hồng mới có giá trị cái đẹp hoa hồng. Dù ở đây chỉ là một đoá vô thường.
Ta thử nhớ lại thời đại phát sinh tài năng Trịnh Công Sơn.
Năm anh 15 tuổi, 1954, Hiệp Ðịnh Genốve chia đôi đất nước, cả hai miền Nam Bắc đều hoá thân trong hoàn cảnh chính trị và văn hóa mới.
Ở miền Nam, văn hoá phương Tây tràn ngập thị trường, nhất định phải ảnh hưởng mạnh mẽ đến tuổi mười lăm.
Sách báo, đĩa nhạc Pháp du nhập ồ ạt vào Việt Nam hằng ngày, giá thực tế rẻ hơn tại Paris nhờ trợ cấp hối đoái, và đây lại là thời kỳ phát minh và phát triển của loại sách bỏ túi và đĩa hát rảnh mịn (microsillon), phát hành rộng rãi, kèm theo những phương tiện truyền thanh mới. Thời trước, tuy Việt Nam là thuộc địa Pháp, nhưng văn chương Pháp chỉ du nhập qua nhà trường, giáo trình dừng lại ở cuối thế kỷ XIX: uyên bác như Xuân Diệu mà không biết Apollinaire. Sau 1954, văn hoá Pháp , và phương Tây , du nhập thẳng vào thị trường. Công chúng đọc Françoise Sagan tại Sài Gòn cùng lúc với Paris. Trên hè phố, nhất là tại các quán cà phê, người ta bàn luận về Malraux, Camus, cả về Faulkner, Gorki, Husserl, Heiddeger.
Nhà văn Bửu Ý, bạn Trịnh Công Sơn – học trước Sơn hai lớp tại Lycée Français Huế – hát Lá Rụng (Les Feuilles Mortes) một lần với Juliette Gréco, hát Ðời hồng tươi (La Vie en Rose) một lần với Edith Piaff, hay Yves Montandá; trong khi Thanh Tâm Tuyền dịch Barbara của Jacques Prévert, đăng trên Sáng Tạo và nhà văn trẻ Nguyễn Xuân Hoàng cũng ngân nga Barbara. Nguyễn Trần Kiềm, bạn cùng lớp với Sơn, đi cyclo che nắng bằng sách của Sartre.
Người ta thắc mắc về những tên ca khúc Trịnh Công Sơn cầu kỳ như Mưa Hồng, Tuổi Ðá Buồn, trong khi Thanh Tâm Tuyền viết Ðêm Màu Hồng, về sau trở thành phòng trà lừng danh, lại viết thêm Lệ Ðá Xanh, được danh hoạ Ðinh Cường, bạn thân Trịnh Công Sơn, vẽ thành tranh trừu tượng, v…v… .
Song hành với sách báo, các cơ quan văn hoá tây phương mở cửa hoạt động: Phòng Thông Tin Hoa Kỳ, Pháp, Trung Tâmvăn hoá Ðức … dĩ nhiên là với những động cơ chính trị , tuyên truyền, tranh thủ, trong thời kỳ chiến tranh lạnh, mà chúng tôi không đề cập ở đây, chỉ nhấn mạnh ở ảnh hưởng văn hoá phương Tây thời đó trên đời sống trí thức miền Nam. Những Chiều Chủ Nhật Buồn nằm trong căn gác đìu hiu.. ô hay mình vẫn cô liêu, rồi đến Ngày chủ nhật buồn còn ai, còn ai: … Tuổi buồn Em mang đi trong hư vô, ngày qua hững hờ… Không thể không nhắc đến bài Chủ Nhật Buồn, Sombre Dimanche của Seres Rejo, nghe nói đã có người tự tử vì nó. Hay vì những hư vô, cô liêu, hững hờ, thịnh hành một thời. Trong bài viết “Nỗi lòng của tên Tuyệt Vọng” anh đã tiết lộ “tôi vốn thích triết học và vì thế, tôi muốn đưa triết học vào những ca khúc của mình”. Ví dụ như: “Vết lăn trầm hằn lên phiến đá” mà anh gọi là di thạch: roche errante, người hát không hiểu gì, nhưng vẫn thích hát! Nhưng nói là Rolling Stones cũng không sai.
Ca khúc Trịnh Công Sơn gợi suy tư, đáp ứng lại nhu cầu trí thức chính đáng ở một thiểu số và ảo tưởng trí thức thời thượng ở một đa số, trong đó có các cô cậu, ở mục Tìm Bạn Bốn Phương trên các báo, tự giới thiệu là “yêu màu tím và nhạc họ Trịnh” hay “nhạc TCS” viết tắt.
Thời kỳ này, Nguyễn văn Trung đã viết bài ảo ảnh Thanh Thuý. Nếu nói về “ảo ảnh Trịnh Công Sơn”, ông ấy cũng có thể viết một bài hay.
Nhạc Trịnh Công Sơn đơn giản: một đặc điểm tạo dựng thành công. Phạm Duy nhận xét về Trịnh Công Sơn “Bài hát chỉ cần một chiếc đàn guitare đệm theo, nếu hoà âm phối khí rườm rà thì không hợp với những bài hát soạn theo thể ballade này”. Lại là một yêu cầu khác của thời đại: những Georges Brassens, Joan Baez lẫy lừng với cây đàn ghi-ta. Ca khúc Trịnh Công Sơn, có thể hát cho vài người nghe, cho một nhóm, hay trước quảng đại quần chúng. Nó đi vào quần chúng, nhất là giới thanh niêná: Nó khác với nhạc phòng trà, có giàn nhạc và do ca sĩ hát, và thính giả đi nghe (và nhìn) ca sĩ nhiều hơn là nghe ca khúc.
Thời Trịnh Công Sơn cũng là thời của các tác-gia-soạn-giả-trình-diễn (auteur compositeur interprète) chẳng bao năm mà trở thành huyền thoại: Jacques Brel, Bob Dylan. Báo chí Mỹ gọi Trịnh Công Sơn là Bob Dylan Việt Nam, vì nội dung phản chiến, mà còn vì phong cách trình diễn.
Nhạc Trịnh Công Sơn không phải là nhạc giao hưởng. Những soạn giả bậc thầy của nhạc lý Việt Nam thời đó, như Vũ Thành, Văn Phụng, Nghiêm Phú Phi không có quần chúng.
Trịnh Công Sơn có tài đặt nhạc, soạn lời, lại biết bắt mạch thời đại, sống đúng thế hệ của mình, trong lòng đất nước, trong nhạc cảnh thế giới. Ngần ấy cái tài dồn lại, gọi là thiên tài, cũng không quá đáng.
*
Phân chất những lớp phù sa đã tấp vào dòng nhạc của mình qua những giao lưu văn hoá, Trịnh Công Sơn có nói đến những ảnh hưởng ngoại lai: “Thưở nhỏ tôi rất thích nhạc tiền chiến và có nghe một số nhạc nước ngoài.”Những năm 60, tôi có nghe nhạc Blues nói về thân phận của người da đen ở Mỹ. Tôi rất thích nhạc của Louis Amstrong, D. Ellington… Tôi thấy loại nhạc này gần gũi với mình và thấy có khả năng muốn lấy nhạc này để nói lên tâm sự của mình”. [1]
Và cũng trên số báo Ðất Việt đó, anh cho biết thêm về ảnh hưởng. Những năm 64-66, sáng tác có chất Blues, những năm 67-72, lại mang nhiều chất dân caáằ.
“Chất dân ca” ở đây, phải hiểu theo nghĩa folk songs của Bob Dylan và Joan Baez thịnh hành thời đó. Cả hai danh ca đều hơn Sơn hai tuổi, cùng một thế hệ, cùng một lý tưởng chống chiến tranh, cùng một cây ghi-ta, cùng một điệu hát. “Dân ca” ở đây không phải là hò mái nhì, hò giã gạo của quê hương. Nhạc dân tộc trong thời gian đầu, dường như không mấy ảnh hưởng đến anh. Những bài theo chủ đề ru con của Trịnh Công Sơn không mấy âm hưởng những bài hát ru em Việt Nam.
Sau này, thỉnh thoảng người nghe có nhận ra chút âm hưởng hò Huế, như trong Thuở Bống là Người, hay điệu ru dân tộc, như Lời Mẹ ru Con thì cũng chỉ là đôi biệt lệ, không tiêu biểu.
Gần đây, sách báo thường trích dẫn câu Trịnh Công Sơn:
”Tôi chỉ là tên hát rong, đi qua miền đất này để hát lên những linh cảm của mình về những giấc mơ đời hư ảo”
Lại phải hiểu chữ “hát rong” theo nghĩa hiện đại: không phải là ông sẩm chợ, hát vè Thất Thủ Kinh Ðô ở phố Ðông Ba mà Huy Cận đã mô tả, mà hình ảnh người du ca hiện đại, những baladins itinérants trong ca khúc Bob Dylan, trong quan niệm Nhạc Du Bất Tận, Never Ending Tour (1988). Nhà thơ Tô Thùy Yên, chuộng thuyết chính danh, nên đã nói rõ điều này và gọi Trịnh Công Sơn là “người du ca chính hiệu”:
“Người du ca” là một nghệ sĩ đặc biệt đứng giữa âm nhạc và thi ca, đúng hơn, người du ca là một thi sĩ nhiều hơn là một nhạc sĩ.
Người du ca thường khi xuất hiện và nổi bật trong những thời đại được coi là u uất nhiễu nhương, những thời đại mà tiếng nói con người bị lấn át, tự do con người bị cưỡng chế, giá trị con người bị hạ thấp, hạnh phúc con người bị tước đoạt và ước vọng con người bị bao vây.
Thành thử những tác phẩm du ca có thể là những tác phẩm yếu hơi, dễ dãi, sơ sài, những tác phẩm thành hình trong một thoáng cảm hứng nhất thời, những tác phẩm như những ký tự ghi chép vội vàng trên một trang giấy tình cờ, và thả bay ngay theo thời thế” ( Tô Thùy Yên) .
Trong Cõi Tạm, ăn xổi ở thì này, nơi con người chôm liền chộp lẹ mọi cơ hội để mua lẻ và mua rẻ chút hư danh, có người còn viết được những lời như vậy, là nghiêm túc và tâm huyết. Nhất là viết cho một người vừa khác phe, vừa khác phái.
Văn Cao cũng là một người sành chữ nghĩa. Trong câu chuyện thân mật, anh thường nói ỏSơn là một troubadour (kẻ hát rong) có tài. Nhưng khi viết về Trịnh công Sơn, anh dùng chữ chantre, trang trọng hơn, trong nghĩa “kẻ ngợi ca” bởi Sơn đã hát về quê hương đất nước bằng cả tấm lòng của một đứa con biết vui tận cùng những niềm vui, và biết đau đến tận cùng những nỗi đau của Tổ Quốc Mẹ hiền”. Troubadour hát nhạc mua vui cho trần thế, chantre hát những Lời Buồn Thánh. Tuy nhiên, Trịnh Công Sơn cũng chỉ tự xưng là troubadour, như tên đặt cho phòng tranh anh triển lãm chung với Ðinh Cường, Bửu Chỉ tại Gallery Tự Do, tháng 8/2000.
Năm 1969, bạn anh, họa sĩ Trịnh Cung, đã vẽ bức tranh đẹp, tên là Le troubadour = Kẻ du ca, để kêu gọi hoà bình. Những chuyện này đều tương quan với nhau.
Khi Phạm Duy gọi ca khúc Trịnh Công Sơn là những ballades, không cùng một nguồn gốc với chữ baladin, cũng là có ý trang trọng.
Các vị ấy tài cao, ý sâu mà lòng thì rộng rãi; cho nên lời cũng khoáng đạt.
*
Hôm qua trăng sáng lờ mờ
Em đi tát nước, tình cờ gặp Anh
Người con gái Việt Nam da vàng, ngày xưa, đã hát như thế trong ca dao, là để che dấu khát vọng tình yêu, chứ trong đời sống nông thôn thời ấy, làm gì có cái tình cờ.
Ðời sống thế giới hiện nay, nghĩ cho cùng, cũng vậy thôi. Những giai điệu blues, nhạc phản kháng Bob Dylan, Joan Baez, thơ Prévert, Aragon, Eluard … Trịnh công Sơn đã gặp gỡ, trên dòng nhạc, dòng thơ, dòng tâm tư. Và dòng lịch sử, dân tộc và thế giới. Trong cao trào lớn của loài người, giữa lòng thế kỷ hai mươi: cao trào giải phóng dân tộc, chủng tộc và giai cấp. Ðừng quên việc giải phóng phụ nữá: người phụ nữ Pháp đã đi phá ngục Bastille từ 1789, mãi đến 1946 mới có quyền đầu phiếu.
Người phụ nữ Việt Nam cũng vậy thôi: sau khi chờ chồng hoá đá, họ bước chân vào thế kỷ XX, thì ngồi đan áo. Từ Buồn Tàn Thu của Văn Cao, qua Bếp Lửa của Thanh Tâm Tuyền, thơ hiện đại của nhà thơÝ Nhi, cho đến năm 2000, trong ca khúc Ðêm Xanh của Bảo Chấn, cô ấy vẫn ngồi đan áo, trong khi dọc hè phố, áo pull bán rẻ mạt.
Ðan áo là hình ảnh ẩn nhẫn, thụ động mà người đàn ông đòi hỏi. Ðan áo cho ai đó, hay để tưởng nhớ, chờ đợi ai đó. Ca khúc Trịnh Công Sơn, rất nhiều phụ nữ, nhưng không thấy họ đan áo. Mà chỉ … ngồi chơi, khi nghiêng vai, khi nghiêng đầu, khi nghiêng sầu. Ngồi chơi chán rồi thì Ðứng lên gọi mưa vào Hạ. Nếu khóc, cũng chỉ khóc cho những Chiều mưa đỉnh cao… Mai kia, có ra đi, thì cũng là Như những dòng sông nhỏ.
Người đàn bà trong Trịnh Công Sơn đẹp dung dị và tự do bình thường. Tự do với cuộc đời, với tình yêu, thậm chí với tình dục. Nhạc Trịnh Công Sơn không nói đến tình dục, vì nói đến … làm gì?
Người phụ nữ nghe và hát nhạc Trịnh Công Sơn thoải mái, vì chỉ hát, hay nghe, mà không phải làm gì cả, không phải Hái Mơ, Lái Ðò, bán Hàng Cà Phê, Hàng Nước, không phải thay quần áo làm cô Sơn Nữ, cô Láng Giềng hay mua lấy số phận Người Yêu của Lính. Và nhất là không phải … đi lấy chồng: hạnh phúc không thấy đâu mà chỉ nghe oán trách dài dài suốt nửa thế kỷ: Em đi trên xác pháo, anh đi trong nước mắt… Em ơi tình duyên lỡ làng rồi, còn chi nữa mà chờ … Và, ở một chân trời khác, họ cũng không phải ba đảm đang, ba sẵn sàng, làm Người Mẹ Cầm Súng, xung phong đi gỡ mìn ở Ngã Ba Ðồng Lộc …
Sau 1975, khi “Em ở Nông trường, em ra Biên giới” thì người nghe có cảm giác cô Tấm đã trở thành cô Cám, và Trịnh Công Sơn sẽ gào gọi Bống hỡi Bống hời, cô Tấm thỉnh thoảng có tái hiện, nhưng cũng đã tân trang nhiều lắm.
Trong xã hội Việt Nam, cho đến hôm nay, chưa chắc gì người phụ nữ đã được giải phóng, và tôn trọng đúng mức. Trong ca khúc Trịnh Công Sơn, họ được giải phóng và tôn trọng. Tôn trọng người đàn bà, không phải là tán tỉnh, Trịnh Công Sơn, rất hồn nhiên đã hiểu ra và nói vào điều đó.
*
Nhạc phản chiến, đòi hỏi hoà bình của Trịnh Công Sơn thì nhiều người biết, sẽ có nhiều người viết về đề tài này. Mới đây, trong buổi tưởng niệm Trịnh Công Sơn, tại Californie, anh Ðỗ Ngọc Yến có nói rõ và nói đúng, khác với Ðỗ Ngọc Yến cách đây 40 năm và 20 năm.
Tôi không đủ thì giờ viết về đề tài này, nhưng sẽ đề cập đến ở một dịp khác, nay chỉ vội nói ngay mấy ý kiến chủ quan:
1.- Dù đánh giá ra sao đi nữa, nhạc Trịnh Công Sơn cũng là sản phẩm của chế độ Việt Nam Cộng Hoà, trong cả hai mặt tích cực và tiêu cực của chế độ này.
Không có Miền Nam, cũng có thể có một Trịnh Công Sơn, nhưng là một Trịnh Công Sơn khác, đại khái như một Phạm Tuyên hay Phan huỳnh Ðiểu.
2.- Chính quyền Cộng Sản, sau 1975, sau những thăm dò, đã lưu dung một phần trong nhạc phẩm Trịnh Công Sơn và đã khéo sử dụng Trịnh Công Sơn. Có thể nói sau 25 năm chiến thắng, thành công hiếm hoi, nếu không phải là duy nhất, của chính sách văn hoá của chính quyền cộng sản, là tiếp thu nhạc Trịnh Công Sơn, mà công đầu là Thành Uỷ TPHCM. Dùng chữ ‘chính sách’, là để nhìn toàn cảnh, chứ đối với một cá nhân, chắc chỉ có những quyết định cục bộ, nhất thời, bất thành văn. Dù sao, họ cũng chỉ kế thừa kinh nghiệm Liên Xô vào thời kỳ Tân Chính Sách Kinh Tế (NEP) những năm 1920, sau cuộc nội chiến, khi Lenine thu dung những nhà văn, nhà thơ ‘bạn đường’ (Popoutchiki) như Alexis Tolstoi hay Zamiatine.
Trong chiến tranh chống Pháp, người Cộng Sản đã không thu phục được Phạm Duy. Sau 1954, họ không thu phục được Văn Cao. Nhưng sau 1975, họ thu hoạch được Trịnh Công Sơn, như vậy đã là thành công. Thành công về mặt hiện tượng, không phải về mặt bản chất. Về mặt bản chất, chuyên chính vô sản không bao giờ chấp nhận cái gì khác họ, không phải do họ tạo ra. Mặt khác, ca khúc Trịnh Công Sơn trước kia và bây giờ không có ‘tiêu chuẩn’ đáp lại quy luật của hiện thực xã hội chủ nghĩa. Cố gắng đến đâu thì cây cam cũng không tạo được quả chanh. Trước kia ‘hai mươi năm nội chiến từng ngày’ là sai đường lối, bây giờ hỏi ‘Em còn nhớ hay Em đã quên’ vẫn sai lập trường.
Chấp nhận – dù trong giới hạn – những dư vang của một chế độ chính trị mà mình cố công bôi xoá, chính quyền TPHCM, trong chừng mực nào đó, đã nhượng bộ quần chúng, đã gián tiếp thừa nhận mình thất bại, trong việc ngăn chặn nhạc vàng, và nhất là trong việc đào tạo một nền âm nhạc mới đáp ứng với quần chúng. Chính quyền Trung ương Hà Nội wait and see để cho TPHCM “phát huy sáng kiến”; nếu rách việc thì ra tay chận đứng một “quyết đinh địa phương”, nếu vô hại thì án binh bất động, và thêm được tiếng là cởi mở, hoà hợp.
3.- Về phía Trịnh Công Sơn, anh cũng khéo thoả hiệp với chính quyền mới. Việc anh ở lại Việt Nam sau 1975, hợp tác với các hội văn nghệ Huế, rồi TPHCM là hợp lý, sau khi đã sáng tác Khi đất nước tôi thanh bình, tôi sẽ đi thăm… Ðó là sự chọn lựa tự do của anh. Cũng như Nguyễn Trãi xưa kia, cháu ngoại nhà Trần, mà không phò tá các phong trào kháng chiến Hậu Trần, lại đi hợp tác với đám nông dân Lam Sơn. Hay như Ngô thời Nhậm, nhiều đời ăn lộc chúa Trịnh vua Lê, mà đã đi hợp tác với nhóm áo vải Tây Sơn. Từ đó người ta có thể thông cảm khi anh làm một số bài ca ngợi chế độ mới, không hay lắm và ít được hát, ít người biết: âu cũng là điều may mắn cho anh, vì anh đã có một số câu chữ không hay và không cần thiết.
Anh là người được hưởng nhiều bổng lộc của chính quyền, nhiều hơn những cán bộ đã vào sinh ra tử trong cả hai cuộc chiến tranh. Anh có thể hát Ðời Cho Ta Thế. Thật ra, đời không cho ai cái gì mà chỉ đổi chác; anh đã phải trả giá, có khi là giá rất đắt. Anh không trả thì nhiều người khác phải trả. ý thức điều đó có lần anh viết:” Tôi không bao giờ có tham vọng trở thành một người viết ca khúc nổi tiếng. Nhưng đời đã tặng cho tôi món quà ấy thì tôi không thể không nhận. Và khi đã nhận rồi thì phải có trách nhiệm với mọi người”.
Nói thì ngon lành như thế. Thực tế không đơn giản: người ta cho anh bó hoa, chai rượu. Ai cho anh trách nhiệm? Anh hát “mỗi ngày tôi chọn một niềm vui”, khi bạn anh, Thái Bá Vân, nhà phê bình nghệ thuật tài danh, thuộc Viện Mỹ Thuật Hà Nội than: “một năm không được một ngày vui”. Muốn mua vui, phải vào Sài Gòn … chơi với Sơn. Nhưng chẳng qua là niềm vui của phận “chim lồng cá chậu”; Hiểu như thế, bạn bè không đòi hỏi gì nhiều ở một nghệ sĩ yếu đuối, sống chết giữa trùng vây như anh.
Người ta đánh giá một tác giả qua những tác phẩm anh ta đã thực hiện, chứ không qua những tác phẩm mà ‘lẽ ra’ anh ta phải thực thực hiện. Nhân danh cái ‘lẽ ra’ ấy, người làm văn học nghệ thuật đã là nạn nhân của bao nhiêu là oan khiên, oan khốc và oan khuất.
Không những vì chút tình riêng, nhưng còn vì tình đời, luật công bình, luật tương đối, luật chơi, chúng ta nên gạt sang một bên nhiều cái “lẽ ra” đối với Trịnh Công Sơn, mà chỉ xét những cái anh đã làm ra.
4.- Qua bốn mươi năm truân chuyên, Trịnh Công Sơn đã có những đóng góp lớn lao vào nền văn học nghệ thuật, vào đời sống xã hội, và lịch sử chính trị. Phần lớn sự nghiệp anh đã thành hình và thành công dưới chế độ Việt Nam Cộng Hoà, mà mọi người đã biết. Bài này tạm thời chưa nói đến.
Ngoài quần chúng cũ, nghe nhạc Trịnh Công Sơn vì yêu thích hay để nhớ lại ngững âm hao xưa cũ, thì thính giả khác, giới thanh niên Việt Nam ngày nay, hay người miền Bắc trước 1975, đón nhận ra saoá?
Trong xã hội Việt Nam ngày nay, ca khúc Trịnh Công Sơn mang lại chất Thơ cho đời sống. Nhìn qua một số đĩa hát CD, thu nhiều bài của nhiều soạn giả, thì cái tên chung thường mượn tiêu đề của Trịnh Công Sơn, như Lời Thiên Thu Gọi (Hồng Nhung), Xin Mặt Trời hãy ngủ yên (Mỹ Linh), những tiêu đề nhiều âm vang, nhiều thi vị. Những nhạc sĩ khác, Dương Thụ, Phú Quang, Trần Tiến, Bảo Chấn… đều tài cao, nhưng được đào tạo và trưởng thành trong một xã hội duy dụng và thực dụng, óc sáng tạo cao siêu của họ không đặt ra những câu hỏi vớ vẩn như là Sóng Về Ðâu? Vì thực tế: sóng thì … về đâu? Trong một mẩu xã hội nào đó, đặt những câu hỏi như thế, là có cơ nguy bị nhốt vào nhà thương điên.
Chủ nghĩa hiện thực xã hội rất nghiêm khắc, yêu chuộng văn vần, một loại văn xuôi diễn ca (prose versifiée), với điều kiện loại văn vần ấy không có chất Thơ. Thi phẩm của “công thần” Nguyễn đình Thi còn bị gạt ra, nói gì đến “hàng thần” Trịnh Công Sơn? Nhưng ca khúc Trịnh Công Sơn đã lọt qua được các mắt lưới, vì đã cấp thời đáp lại được “lời gọi của khoảng trống” (l’appel du vide) và ca khúc là một thể loại nhẹ, phù phiếm (genre léger), chính quyền dung dưỡng vì có khả năng chận đứng bất cứ lúc nào ố như đã làm với nhạc Văn Cao ngày xưa: thậm chí bài Quốc Ca còn bị hăm doạ thay đổi. Và đang làm với Phạm Duy ngày nay. Trong các CD thu tại Việt Nam hiện nay có mấy khi,mấy ai thấy Giấc Mơ Hồi Hương, nhạc Vũ Thành?
Chính quyền dung dưỡng ca khúc Trịnh Công Sơn không phải vì động cơ nghệ thuật, nhưng như một thế phẩm (ersatz), trong thời kỳ quá độ, như bác sĩ ban thuốc an thần cho bệnh nhân mất ngủ. Trong khi chờ đợi, thính giả hưởng lạc khoản, được ngày nào hay ngày ấy. Họ đang được nghe bài Sóng Về Ðâu một trong ca khúc cuối đời Trịnh Công Sơn:
Biển sóng, biển sóng đừng xô tôi
Ðừng xô tôi ngã dưới chân người
Biển sóng, biển sóng đừng xô nhau
Ta xô biển lại sóng về đâu
Sóng bạc đầu và núi chìm sâu
Ta về đâu đó
Về chốn nào mây phủ chiêm bao
Xã hội chủ nghĩa có thể tạo ra nhiều bài hát hay hơn. Nhưng tạo ra được cái gì na ná như thế thì vô phương. Thiên tài không phải là người không bắt chước ai, mà là người không để ai bắt chước được mình.
5.- Chứng từ cho giá trị một tác phẩm nghệ thuật, là khả năng kết hợp rộng rãi và lâu dài của nó. Nhạc Trịnh Công Sơn được hát rộng rãi ở Miền Nam trước 1975, chúng ta đã biết. Nhưng trước 1975, Miền Bắc đã nghe và đã thích nhạc này, như Văn Cao đã kể lại. Nguyễn Duy kể thêm rằng ở dọc Trường Sơn, bộ đội miền Bắc cũng đã nghe:
“Mặt trận Ðường Chín-Nam Lào (1971)… trong căn hầm kèo bên dòng sông Sêbănghiêng… Nghe, nghe trộm – vâng, lúc đó gọi là nghe trộm – đài Sài Gòn, tình cờ ‘gặp’ Trịnh Công Sơn qua giọng hát Khánh Ly… Diễm Xưa… Mưa vẫn mưa rơi … làm sao em biết bia đá không đau … Quỷ thật! giai điệu ấy và lời ca ấy tự nhiên ‘ghim’ lại trong tâm tưởng tôi ngay từ phút bất chợt ấy. Rồi Như Cánh Vạc Bay… Quái thật! … Cảm nhận bất chợt, những bài hát rất mượt mà, đắm đuối ấy… ừ thì có buồn đấy, đau đấy, quặn thắt nữa đấy… nhưng còn là cái gì lành mạnh nảy nở trong đó. Hình như là cái Ðẹp… Bảng lảng, lờ mờ, khó phân định cho đúng nghĩa, nhưng rõ ràng là đẹp, đẹp làm sao… Và cũng hơi ma quái thế nào …” [1]
Người ác ý có thể ngờ vực: Nguyễn Duy là nhà báo có quyền nghe đài, sau này là bạn rượu của Trịnh Công Sơn, nên thêm thắt. Thì đây, một chứng từ khác đến từ một anh bộ đội, không quen biết gì, không điếu đóm gì với Trịnh Công Sơn, nhà văn Nguyễn văn Thọ, hiện ở Berlin:
“Năm 1972, khi ấy tôi là bộ đội trong rừng Trường Sơn. Thằng bạn tôi, sau chiến dịch Lam Sơn 719 vớ được cái đài Sony rất tốt.
Ðêm Trường Sơn, chờ cho mọi người đi ngủ hết, chúng tôi lén mở đài BBC và cả đài Sài Gòn. Ðấy là lần đầu tiên tôi được nghe tiếng hát Khánh Ly với nhạc Trịnh Công Sơn.
Chúng tôi là lớp người lớn lên từ Miền Bắc, thường quen với những khúc thức hùng tráng. Trong tiếng chộn rộn rú rít của sóng vô tuyến, tôi vẫn thấy một giọng lạ của một thứ âm nhạc mới. Một thứ nhạc da diết, đầy lãng đãng từ ca từ, tới khúc thức. Một thứ nhạc xanh không giống bất cứ nhạc xanh nào mà tôi từng nghe, kể cả trong những đĩa hát quay tay cổ mở suốt ngày rên rỉ ở đầu chợ trời những ngày sau hoà bình.
Rất lạ, với tôi khi đó nhạc Trịnh Công Sơn như làn gió khởi từ xa xăm đâu đó, tách khỏi hận thù trận mạc, tha thiết một tình yêu đồng loại, giống nòi, yêu bè bạn, hoà bình, đạo lý. Nó lạ, vì lối ca từ phi tuyến tính, không giống cách viết truyền thống trên những ca khúc của Hà Nội khi đó”.
Quý hoá hơn nữa, anh Thọ đã ghi lại cảm giác khi tiến quân vào Sài Gòn, nghe nhạc Trịnh Công Sơn hát Nối Vòng Tay Lớn, buổi trưa ngày 30/4/1975, trên đài Sài Gòn:
“Mặt đất bao la … anh em ta về … gặp nhau trong bão lớn quay cuồng trời rộng …
Lời ca không phải là tiếng thách thức tử thủ. Lời ca không phải là tiếng bể máu như kết cục thường của chiến cuộc, lời ca khi ấy làm chùng xuống không khí thù hận và hằn học.
Chúng tôi tiến vào Sài Gòn…
Nối Vòng Tay Lớn
Chiến tranh nào bao giờ chẳng có mặt trái, nhưng tiếng hát kia, bản nhạc ấy, mở ra cho cả hai bên nghe như một liều thuốc vô hình đã làm chùng xuống một thời khắc thường dễ nổi cáu và nổi đoá.
Ðấy là kỷ niệm thứ hai của tôi về anh.”
Tiếng hát làm chùng tay súng. Một ngày, một giờ mà sinh mệnh của hằng triệu con người nằm trên đường tơ kẽ tóc, một sự kiện như thế không trọng đại hay sao?
Văn học nghệ thuật Việt Nam, đã bao nhiêu lần đóng vai trò đó?
Sau này, Thọ sang sinh sống tại Ðức, theo diện xuất khẩu lao động, vẫn nghe nhạc Trịnh Công Sơn:
“Ngay cả sau này, đôi khi tự an ủi mình, nâng đỡ mình, tôi khe khẽ hát ‘Tôi ơi đừng tuyệt vọng’… và nhiều bài ca khác trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, nhưng tôi vẫn nhớ từng chi tiết và cám ơn nhạc sĩ Trịnh Công Sơn ở trưa phát thanh trên làn sóng Sài Gòn ngày đó” [1]
ở một chân trời khác, nhiều người oán trách Trịnh Công Sơn về việc lên đài hát Nối Vòng Tay Lớn , trưa ngày 30.4.1975. Thật ra, anh có hát hay không hát, thì chế độ Việt Nam Cộng Hoà cũng tan rã. Anh có hát, và có hợp tác với chính quyền mới, âu cũng là một cách cứu vãn vết tích văn hoá của nền Việt Nam Cộng Hoà đã đào tạo ra anh về mặt tài năng và sự nghiệp, thậm chí tạo ra cả một huyền thoại Trịnh Công Sơn.
Một lần nữa, ông Nguyễn văn Trung, sau ảo ảnh Thanh Thúy nếu viết Trịnh Công Sơn Thực Chất và Huyền Thoại cũng sẽ nghĩ ra nhiều điều hay.
Nếu có ai đó nói rằng: Trịnh Công Sơn là một khổ nhục kế, để kéo dài hơi thở văn hoá của một chế độ chính trị đã bị bức tử, thì là lời đại ngôn, duy cảm, nghịch lý, vớ vẩn.
Vớ vẩn như một số lời ca trong tác phẩm Trịnh Công Sơn. Nhưng biết đâu chẳng là sự thực? Sự thực trong bao nhiêu cái vớ vẩn, kể cả trong lịch sử.
Chế Lan Viên, năm 1984, đã viết: “Văn hoá của thực dân mới là con đẻ của chủ nghĩa thực dân mới. Quân sự, chính trị thực dân mới có chết, có băng hà thì nó cũng truyền ngôi cho văn hoá”. Và Chế Lan Viên không phải là người vớ vẩn, viết lách vớ vẩn.
*
“Không xa đời và cũng không xa mộ người…”
Trịnh Công Sơn đã xa đời lúc 12 giờ 45 tại Sài Gòn, ngày 01.4.2001.
Ðám tang ngày 4 tháng tư, nghe nói lớn lắm, hàng trăm tràng hoa ngập con hẻm 47 Duy Tân. Hàng vạn người đưa tiễn, trong đó có thể có người đi tiễn một điều gì khác, một tâm tình hay u hoài nào đó của riêng mình, chẳng hạn.
André Malraux có nói đâu đây rằng “trong Thiên Chúa Giáo, chỉ có những pho tượng là vô tội”. Trịnh Công Sơn đã sống non nửa sau cuộc đời, trong một chế độ chính trị mà các pho tượng cũng không phải là vô tội.
Những đoá hoa đặt trên mộ Toa, Sơn ơi, không phải là đoá hoa nào cũng vô tội.
Bây giờ moa mới khóc Toa đây. Tại nhà moa, ngồi ở chỗ Toa ưa ngồi vẽ, nhìn dòng sông nhỏ, mà Toa đã gọi là sông An Cựu.
Sơn ơi, đời này, và sang đời khác nữa, làm gì có đến hai dòng sông An Cựu;
an cựu, Sơn ơi.
.
Orléans, 14.04.2001, đọc lại, bổ sung 30- 3.2012
Filed under: Bài của bạn, Làng văn, Phê bình Thẻ: | Trịnh Công Sơn, ĐẶNG TIẾN
« PHẢI CHĂNG “BỤT CHÙA NHÀ KHÔNG THIÊNG”? NHỚ TRỊNH CÔNG SƠN »Đời
Chủ Nhật, 1 tháng 4, 2012
Thứ Hai, 21 tháng 11, 2011
Truyện ngắn- Chuyện tình buồn
Truyện ngắn
CHUYỆN TÌNH BUỒN
Lê Quang Kết
Họ cưới nhau trong tình yêu hạnh phúc. Vinh - trưởng phòng một công ty đầu tư nước ngoài, Lãm Thúy- họa sĩ hãng phim, căn hộ gia đình họ tọa lạc ngay trung tâm thành phố. Cha Vinh bạo bệnh mất sớm mẹ nuôi anh trong khổ cực với nghề hàng xén ở làng quê. Bà kỳ vọng và gửi gấm vào đứa con trai duy nhất hiền lành thông minh- lấy đó làm niềm hạnh phúc đời mình. May mắn đến với bà- cưới vợ cho con trai cùng lúc đất nhà nằm trong khu dự án quy hoạch công nghiệp được đền bù giải tỏa một khoản tiền khá. Tất cả của nải chắc chiu dành dụm bao năm bà đã dồn cho vợ chồng Vinh- Lãm Thúy tậu căn hộ mới ngay khu đất vàng đô thị. Bà Vò nghĩ- mình già rồi họ hàng bà con láng giềng bấy nay thôi thì đất lề quê thói chẳng phải đi đâu, xe cộ inh ỏi rồi lối sống đô thị náo nhiệt xô bồ, mình chẳng thích với lại có thân thiết quen biết ai đâu- buồn chán lắm. Thôi thì cứ ung dung tự tại nơi làng quê yên bình, đi đâu cho nhọc lòng khổ dạ.
Sau ngày cưới tình yêu họ càng bền chặt như đôi chim ríu rít chuyền cành, tung tăng líu lo tràn trề nhựa sống. Trai tài gái sắc- nhìn họ đẹp đôi bao người mơ ước. Sau một ngày bận rộn Lãm Thúy mong sớm trở về nhà để được bên chồng- tận hưởng những giây phút ngọt ngào. Cô như cành liễu yếu mềm cần bàn tay nâng niu che chở.Vinh yêu thương vợ- cần mẫn với công việc, am hiểu chuyên môn được bạn bè đồng nghiệp tin yêu. Mối bận lòng của chàng là mẹ già mải tận quê nhà xa xôi những khi trái gió trở trời lấy ai chăm lo phụng dưỡng. Anh bàn với vợ.
- Hay là đưa mẹ vào sống cùng chúng mình em nhỉ?
- Đúng rồi, em định nói điều này với anh mấy tháng nay nhưng… Có mẹ là tuyệt vời, vui nhà vui cửa anh ha…
Vợ chồng đồng thuận nhưng cũng phải năm lần bảy lượt thuyết phục nói gần nói xa bà Vò mới chịu vào thành phố sống. Lãm Thúy tin rằng với tình yêu chồng- cô và mẹ sẽ có tiếng nói chung. Cô đã nghe nhiều chuyện mẹ chồng nàng dâu khó lắm, mâu thuẩn khó thể dung hòa, thậm chí đổ vỡ hạnh phúc gia đình…Hồi nhỏ Lãm Thúy xem vở cải lương Thoại Khanh- Châu Tuấn, nàng dâu cắt thịt tay mình dâng lên mẹ chồng qua cơn đói lã giữa rừng sâu, Thoại Khanh còn dâng cả đôi mắt cho hung thần để mẹ chồng toàn tính mạng. Chuyện xưa…kịch tính chứ làm gì có, bây giờ khác nhẹ nhàng bình đẳng thôi- cô tin mình sẽ là cô dâu hiền được mẹ chồng thương quý.
Lâu nay mỗi khi bày tỏ yêu thương vợ, Vinh thương bế nàng và đặt nụ hôn cháy bỏng. Hôm nay chàng còn quay một vòng âu yếm rồi đặt nàng xuống chiếc ghế sopha êm ái. Lãm Thúy cảm giác hạnh phúc tràn trề nhưng có điều gì đó bâng quơ làm nàng lo sợ…
- Phòng mẹ hướng chếch đông để đón ánh nắng ban mai và hợp phong thủy với người già anh nha…
- Ôi, vợ tôi đáng yêu, em đã chọn bao giờ cũng…tối ưu không chê vào đâu được.
- Anh giỏi… nịnh lắm.
Người già sống theo nếp quê thường giản dị tiết kiệm. Hoa trái mọi thứ quanh vườn không phải mua sắm, người nhà quê chẳng chưng hoa bao giờ và cũng chỉ ngày tết hay giỗ chạp thôi, mấy bông vạn thọ, bông trang, huệ hay bông cúc đơn giản- thế là đủ. Nàng dâu họa sĩ lại thích hoa tươi- hồng, lan rồi tulip, cẩm chướng đắt tiền, chỉ vài ba ngày cao lắm là một tuần phải thay hoa nơi phòng khách.
- Các con phung phí quá, phải biết dành dụm “tích cốc phòng cơ tích y phòng hàn” chứ. Tiền mua hoa mỗi tháng cả triệu bạc, uổng phí lắm.
- Mẹ ơi, hoa tươi là niềm vui không thiếu được đâu mẹ. Nếp sống người thành phố hiện đại là thế mẹ ơi.
Chuyện hoa tươi mỗi lần mua về bà gia đều hỏi giá và chép miệng tiếc rẻ thở dài thườn thượt. Không chỉ hoa mà mọi thứ mua sắm mẹ đều gặng hỏi từng thứ rồi lẳng lặng vào phòng lầu bầu khó chịu. Có lần nhìn cảnh ấy, Vinh cười bảo vợ.
- Em yêu ngốc ơi là ngốc, em chỉ nói một nửa so với giá ngoài chợ thì mẹ sẽ vui biết mấy, phải không nào?
Cuộc sống bắt đầu có điều bất an, chuyện nhỏ nhưng từng chút từng chút làm nàng dâu mẹ chồng khó chịu, bất hòa thậm chí tránh mặt nhau. Mà chỉ đâu chuyện hoa tươi, tiền điện nước mỗi tháng lên tới tiền triệu, giặt máy tốn xà phòng, quạt máy điều hòa tốn điện, ăn uống thừa mứa đem đổ thùng rác…Hồi dưới quê mọi thứ bà Vò chẳng mất một xu, có sao đâu. Điều khó chịu nhất là mỗi sáng bà chứng kiến cảnh con trai phải dậy sớm chui vào bếp nấu ăn trong khi nàng dâu nướng ngủ trên chiếc giường nệm êm ái, phải đợi chồng gọi mới chịu dậy. Dâu con gì lạ thế! Cứ mỗi buổi sáng vào bàn ăn, ba người mỗi người một cõi. Mẹ chồng mặt nặng, anh chồng lo nghĩ, nàng dâu giả câm giả điếc nhưng dè chừng, mọi thứ bỗng trở nên u ám nặng nề.
Hồi ngoài quê bà Vò vốn hay lam hay làm, vào thành phố bà chẳng chịu yên. Việc gì bà cũng muốn tham gia. Lãm Thúy chẳng thích thú việc mẹ chồng nhúng tay vào công việc, chỉ thêm bận bịu chứ ích gì. Rửa chén bát bà chỉ dùng tay không dùng nước rửa, túi ni lông đựng đồ bà tích cóp để bán cho ve chai, đôi khi khạc nhổ chẳng vệ sinh chút nào…Tối hôm thứ bảy bực mình chuyện đạo diễn phàn nàn thiết kế mỹ thuật, về nhà trong trạng thái không vui, Lãm Thúy giải tỏa ức chế bằng việc ném tất cả túi ni lông vào thùng rác, cô rửa lại chồng chén bát mẹ vừa rửa, dọn dẹp nhà cửa chùi cọ nhà bếp…mọi chuyện cô làm như tát nước vào mặt mẹ, bà Vò nhìn hành động con dâu như muối xát tận tâm can. Hình như đã vượt tới đỉnh điểm của tức giận bà Vò bước nặng vào phòng đóng cửa sầm rồi gào to.
- Trời ơi! Nó chê tao dơ dáy, quê mùa, dốt nát… trời ơi là trời…
Vinh cuống lên, tối hôm đó anh khó ngủ nằm cứ trăn trở, bần thần; bao nhiêu muộn phiền lo âu . Lãm Thúy cố làm nũng, Vinh chẳng thèm để ý. Cô điên tiết.
- Em sai chỗ nào?
- Em đã quá quắt, nguời già lòng tự trọng cao lắm, biết không?
Không khí gia đình căng thẳng, bà Vò chẳng bao giờ trò chuyện với nàng dâu Lãm Thúy. Chàng Vinh sống trong mệt mỏi, biết bênh ai bỏ ai. Mẹ đối với anh là suối nguồn bất tận, vợ là tình yêu gắn bó một đời, người nào cũng chiếm phần cân phân trong trái tim anh. Nỗi khổ niềm vui giữa cõi đời tục lụy, hình như chẳng có cái nào giống cái nào, niềm vui đi qua nhanh còn đau khổ ở lại muộn màng hơn thì phải. Mẹ và vợ, chữ hiếu chữ tình biết làm răng cho trọn vẹn đôi đường?
Và từ hôm đó bà Vò dậy sớm nấu bữa sáng thay cho cậu con trai yêu. Mẹ thương con là quy luật muôn đời. Đàn ông đàn ang cần chi vào bếp, con mình giỏi giang có địa vị xã hội ngang ngữa giữa đời tội tình chi phải nội trợ tề gia. Vinh đã quen với mọi thứ ăn uống mẹ lo từ nhỏ nên ngon miệng hơn mỗi bữa sáng, bà Vò nhìn con tươi vui rồi nhìn nàng dâu dò hỏi trách móc- cô thấy đấy…cô chưa tròn nhiệm vụ làm vợ… Lãm Thúy lại nghĩ bụng, chồng hùa về với mẹ ghét bỏ mình, cô lập mình.
Ngay tối hôm ấy trước khi ngủ, lần đầu tiên Vinh tỏ thái độ to tiếng với vợ.
- Cô chê mẹ tôi nấu ăn dơ nên bỏ bữa sáng ở nhà, có đúng không? Lãm Thúy đầm đìa nước mắt ấm ức nhưng chồng vẫn lạnh nhạt quay lưng ra ngoài và còn dằn giọng.
- Cô còn… chút tình thì hãy ăn sáng ở nhà cho tôi… nhờ.
Tâm trạng phục tùng nhưng tâm bất phục, cô mệt mỏi ê chề nhưng đành sáng sáng ngồi vào bàn cố nuốt. Và một hôm đang ngồi ăn Lãm Thúy chợt thấy buồn nôn muốn ọe ra dù cố kìm nhưng bất lực cô quăng bát đũa chạy vào toillet nôn thốc nôn tháo. Chưa kịp hoàn hồn cô đã nghe tiếng khóc đay nghiến oán trách bằng những từ ngữ cay nghiệt theo thổ âm của mẹ còn chồng thì đứng ngay trước cửa nhìn cô căm tức tới cực độ. Cô há hốc ngạc nhiên chẳng nói hay thanh minh được gì, cô chỉ nghĩ thầm mình có cố ý nôn ọe đâu…
Vợ chồng to tiếng, cãi nhau với bao từ lạ lẫm, những cá tính được khoét sâu bằng câu chữ độc địa, mọi điều xấu trên đời đều nằm vào một trong hai-“Yêu nên tốt ghét nên xấu”là thế! Lúc đầu bà Vò còn giương mắt đứng nhìn, một lát sau khi nghe tiếng mạt sát nặng nề bà thất thểu bỏ ra ngoài. Vinh tức tối nhìn vợ rồi lao nhanh theo mẹ…Gần cả tuần chẳng thấy hơi tăm, bặt vô âm tín- cô điện thoại nhưng rơi vào im lặng không tiếng trả lời. Nàng dâu rối bời, mẹ chồng lên đây mình chịu bao điều oan ức, biết làm sao đây, vậy mà anh ta còn lên mặt muốn thế nào nữa đây…
Buổi sáng gặp chị Tuyết Hoa và cô văn thư ở cổng hãng phim, chị cùng cô bé nhìn cô chăm chú rồi nhoẻn miệng cười.
- Coi bộ cô họa sĩ ốm nghén, đi phụ sản kiểm tra thử coi?
- Đúng thế chị ơi, nhìn chị Lãm Thúy khác lắm…
Hóa ra là thế, tại sao sáng hôm ấy mình buồn nôn khó ở? Kiểm tra ở bệnh viện cho kết quả Lãm Thúy đã có bầu. Niềm vui được làm mẹ- thiên chức cao đẹp của người phụ nữ pha trộn chút buồn hờn trách- tại sao chồng và mẹ lại không nghĩ tới chuyện này nhỉ? Tình cờ hay hữu ý, vừa ra tới cổng khoa phụ sản cô thấy chồng đang loay hoay gởi xe. Mới tuần sao trông Vinh tiều tụy thế -nhìn bộ dạng chồng khiến cô xót xa. Cô gọi anh nhưng đáp lại là cái nhìn dửng dưng xa lạ, ánh mắt anh hàm chứa nỗi oán ghét như mũi kim nhói buốt đâm vào tim cô. Ngồi trên taxi cô muốn khóc nấc lên “Anh yêu, em sắp sinh cho anh một cục cưng đây!”. Và cô tưởng tượng trong niềm hạnh phúc được anh bế lên quay một vòng với nụ hôn nồng cháy hơn hẳn bao lần trước đó…
Về nhà cô nằm vùi trên giường với bao tự vấn. Cô khóc. Chỉ thế mà tình yêu kết thúc rồi sao? Chỉ vì mẹ và chỉ một lần lầm lỗi mà chúng con mất nhau ư? Vĩnh biệt tình anh? Tình yêu dễ dàng vuột mất thế hở anh? Những kỷ niệm trở về trong thổn thức, những lần giận hờn bao giờ Vinh cũng tìm cách giảng hòa trước, lần này tồi tệ thế sao anh? Bần thần tới khuya, có tiếng chìa khóa mở tủ Lãm Thúy bật dậy thấy chồng đầy nước mắt đang loay hoay. À, anh ta đang cần tiền phải về nhà lấy, thế thôi. Cô lạnh nhạt nhìn chồng với ánh mắt vô cảm. Vinh cũng làm như không nhìn thấy vợ, anh vội vã hờ hững bỏ đi.
Vinh đi rồi, Lãm Thúy lại khóc. Tình và tiền anh ta tách bạch rạch ròi đến thế ư? Thôi hết tình ta. Dù thế nào cũng phải ba mặt một lời, một tiếng cho xong để rồi đường ai nấy đi. Vừa đầu giờ sáng cô đã gõ cửa công ty, chàng vệ sĩ trẻ ngạc nhiên.
- Thưa chị, tôi được biết cách đây một tuần mẹ của trưởng phòng bị tai nạn nghiêm trọng nằm bệnh viện, trưởng phòng đã xin nghỉ để chăm sóc mẹ cơ mà. Chị vừa đi xa về có phải không?
- Cám ơn cậu.
Lòng cô rối bời, mẹ tai nạn mà mình vô tâm thật. Lãm Thúy đến ngay bệnh viện nhưng khi gặp mặt chồng mẹ đã nhắm mắt ra đi. Nước mắt cô rơi lả chả, đến nông nổi này sao, trời ơi… Nhìn khuôn mặt tái tím vàng vọt của mẹ cô như mất hồn, dù thế nào cô cũng có phần lỗi trong tai họa tày trời này…Người ở bệnh viện kể chuyện: Bà Vò trên đường ra bến xe về quê khi băng qua đường đã bị chiếc xe tải đâm mạnh chấn thương sọ não, bác sĩ tận tình cứu chữa nhưng không qua khỏi…
Vinh lặng lẽ lo chuyện an táng mẹ rồi anh ở hẳn cả tháng ngoài quê. Nỗi đau lớn làm anh ngã quỵ. Người anh sút hẳn, từ chàng trai khỏe mạnh hoạt bát anh suy sụp tới mức tệ hại khiến ai nhìn cũng ái ngại. Bạn bè khuyên giải, phân tích nhưng Vinh chẳng thiết gì. Anh dọn vào phòng mẹ, ngày nào cũng thế tới khuya mới về nhà người sặc mùi rượu. Lãm Thúy lo lắng, khổ tâm dằn vặt- bao thứ đè nặng lên cô, chuyện mẹ mất có phần lỗi ở cô nhưng không là tất cả, chẳng ai muốn thế. Cô mất mẹ ruột từ nhỏ và cô cũng hiểu chữ hiếu thuận thương quý mẹ chồng. Nếu hôm ấy mình không nôn tháo, nếu hôm ấy mình không to tiếng với chồng, nếu mình thấu hiểu một tý, nếu mình biết đặt mình vào người mẹ…Bao chữ nếu đặt ra…Tai họa giáng xuống gia đình đôi vợ chồng như lấy đi mọi thứ, họ gần bên nhau mà xa cách nghìn trùng.
Một hôm trên đường về nhà ngang qua tiệm ăn hai người thường ăn trưa ngày mẹ còn sống ngoài quê. Lãm Thúy bất ngờ thấy chồng đang ngồi tươi cười trò chuyện với cô gái trẻ, anh tỏ vẻ ân cần vuốt nhẹ mái tóc cô ta. Cô tưởng mình nhầm nhưng không…vẫn thế họ đang âu yếm nhau như Vinh và cô ngày xưa hạnh phúc.Thế đấy, cô đã hiểu- bước vào tiệm trân trân nhìn Vinh, đôi mắt Lãm Thúy ráo hoảnh. Cô không cần nói và nói để làm gì nữa…Cô tình địch nhìn Lãm Thúy nhìn Vinh định đứng dậy, anh ấn cô ta ngồi xuống rồi nhìn vợ “- Ừ tôi thế đấy, cô muốn gì?”. Lãm Thúy thất thần, người cô và cả đứa bé trong bụng cô như ngã quỵ, kẻ thua cuộc là tôi…là tôi…
Nhân chứng vật chứng đã rõ mồn một, đêm ấy Vinh không về. Anh muốn minh xác một hiển ngôn- cùng với sự qua đời của mẹ, tình yêu giữa chúng tôi chấm hết, đừng bận tâm làm gì chỉ đau khổ đến tận cùng mà thôi…
Giờ Lãm Thúy sống chỉ một mình, cô đi khám thai một mình, trái tim cô vỡ vụn khi nhìn các bà vợ bụng bầu được chồng dìu đến phòng khám. Bạn bè khuyên nhủ, có người còn bóng gió gần xa khuyên cô bỏ cái thai đi cho yên chuyện, em còn trẻ đẹp có khối chàng theo lo gì…Cho đến cái hôm, cô về nhà đã thấy anh ngồi chờ bên chai rượu dở dang trên bàn còn tờ giấy một bên đã có chữ ký của Vinh. Khỏi xem cô đã biết điều gì trong tờ giấy kia. Cô bình tỉnh đến lạ thường.
- Đợi một tý tôi sẽ ký ngay đây.
- Em có bầu rồi đấy à?
- Vâng nhưng không sao cả…anh có thể đi được rồi…
Quá khứ là quá khứ không thể trở lại nữa rồi, chúng tôi đã rạch vào tim một vết thương sâu hoắm không hàn gắn nổi. Trái tim Lãm Thúy chỉ ấm lên khi nghĩ đến đứa con trong bụng còn với chồng tim cô lạnh như băng. Anh vẫn ngủ ở phòng mẹ, nhiều đêm trở giấc cô nghe tiếng rên rỉ, âm thanh nghe như cố chịu đựng kìm nén nhưng chắc là đau đớn tột cùng. Anh ta định dở trò gì đây? Tờ giấy ly hôn đã ký nhưng chẳng thấy Vinh đá động gì chuyện ngày ra tòa?
Một đêm gió mùa Đông Bắc se lạnh, cơn đau bụng dữ dội khiến Lãm Thúy thét to. Hình như anh đang chờ đợi phút giây này, Vinh bồng vợ chạy vội xuống cầu thang, chặn taxi và ôm chầm cô vào xe. Anh trìu mến nắm chặt tay vợ như sẻ chia cơn đau, cầm khăn lau nhẹ lên trán cô nóng hổi. Tới cổng Vinh lại cõng vợ chạy nhanh lên khoa sản. Cố nén cơn đau, cô thầm hỏi- Sao lưng anh ấy lạnh ngắt thế kia? Sao anh không còn khỏe như ngày trước? Có điều gì với anh mà mình chưa rõ? Đôi vai anh sao gầy guộc? Một ý nghĩ chợt đến trong cô- Liệu trên đời này có ai yêu thương mình như anh ấy không nhỉ?
Vinh vịn cánh cửa đưa ánh mắt ấm áp nhìn vợ khi được chuyển vào phòng sinh bên trong. Một ngày cũng nghĩa vợ chồng, Lãm Thúy cố nhịn đau mỉm cười- nụ cười bao dung hỉ xả…Chỉ hơn một tiếng sau Lãm Thúy sinh một cậu bé kháu khỉnh, mọi người chúc mừng còn anh nhẹ nhàng nhìn chăm chăm cô và con mà rưng rưng nước mắt…
Mẹ tròn con vuông, Lãm Thúy và cháu bé về nhà trong niềm hân hoan của bạn bè bà con quen biết. Vừa đặt mẹ con cô vào chiếc giường ấm cúng quen thuộc, cô ngước mắt nhìn anh nhưng… Người anh mềm nhũn kiệt sức mệt mỏi ngã quỵ xuống sàn nhà…Sao chuyện gì thế anh? Tờ giấy chẩn đoán bệnh trong túi anh…Kết luận và kết quả xét nghiệm đã xác định: Bác sĩ cho biết Vinh đã bị ung thư xương giai đoạn cuối, phần phụ chú còn ghi: Sự chịu đựng của bệnh nhân Vinh quả là kỳ lạ hiếm có… Trời ơi, tai họa và đau đớn ghê gớm ập xuống chồng cô mà cô không hề hay biết; cô còn nghi ngờ buộc tội, cô còn xa lánh đóng kịch, cô còn lên án chồng xấu xa ngoại tình và bao điều tệ hại độc ác nhất…Cô khóc nức nở…
- Chồng tôi… anh ơi… Vinh ơi… hãy tha thứ cho em. Lỗi lầm tất cả thuộc về em. Em là người vợ xấu xí nhất…người vợ cạn tình bất nhân nhất trên đời…anh ơi…
- Làm gì để cứu mạng sống chồng tôi…hỡi trời…
Nỗi đau xé ruột xé gan với Lãm Thúy, tiếng rên mỗi đêm cô nghe là thật. Anh đã biết mọi thứ và chuẩn bị cho chuyến đi xa. Giờ anh nằm đó, thoi thóp, đau đớn, chịu đựng, từng đốt xương toàn thân đang mỏi mòn phân hủy, di căn đã chạy tới phần tủy…anh yêu…
Dù còn tháng ở cử nhưng cô không thể ngồi yên trong nhà, cô ẳm con trai tới bệnh viện. Lòng nhủ thầm- Tới một lần với cha con ạ, cha sẽ không còn ở lâu với mẹ con mình nữa đâu, cha đau nhức tận xương tủy con ơi…Vào tới giường anh nằm, anh vẫn hôn mê do cắt cơn giảm đau. Lãm Thúy bồng con đặt cạnh bên anh rồi gọi khẽ.
- Con đang hỏi anh- cha đau chỗ nào? Con đang chuyền hơi ấm của cả em và con sưởi cho anh đây…
Vinh như ngọn đèn sắp tắt vụt sáng, anh mở mắt khó nhọc nhìn vợ và đứa con yêu chưa kịp đặt tên. Thằng bé như hiểu được tình cha, rúc vào lòng cha, từng ngón tay nhỏ xíu hồng hồng ngọ nguậy mân mê trên gương mặt cha…Cô ràn rụa…khóc òa…Khổ thân chồng tôi…Khổ lụy tình tôi…
Lê Quang Kết
20 Nguyễn Thái Bình, Tp Bảo Lộc- Lâm Đồng
ĐT: 0633 717 123- 0907 615 510
Email: lequang54@gmail.com
Thứ Bảy, 19 tháng 11, 2011
DẤU CHÂN THÀNH NỘI
Bút Ký
DẤU CHÂN THÀNH NỘI
Lê Quang Kết
Giai điệu và lời hát đưa tôi về ngày tháng cũ- dấu chân một thuở “phượng hồng”: “Đường về Thành Nội chiều sương mây bay/ Em đến quê anh đã bao ngày/ Đường về Thành Nội chiều sương nắng mới ơ ơ ơ/ Hoa nở hương nồng bay khắp trời/ Em đi vô Thành Nội nghe rộn lòng yêu thương/ Anh qua bao cánh rừng núi đồi về sông Hương/ Về quê mình lòng mừng vui không nói nên lời…”( Nguyễn Phước Huỳnh Đệ). Thành Nội với Huế với tôi đã thành danh từ riêng trong miên man nhớ. Nơi đó lũ chúng tôi đã có những kỷ niệm ngày xanh đằm thắm, hoang nghịch và hồn nhiên tuổi học trò…
Làng quê chiến tranh tan tác, tôi lên Huế học trường Hàm Nghi- vốn là Quốc tử giám của Triều đình nhà Nguyễn.Vào cửa Thượng Tứ phía trái mấy bước chân là gặp ngay trường tôi nằm khiêm tốn xen giữa hàng nhãn lâu năm trên đường Đinh Bộ Lĩnh và hàng phượng phía bên kia đường Đoàn Thị Điểm. Ấn tượng đến trường với tôi là mỗi bận đi qua Cửa Ngăn- hai bên Quãng trường Ngọ Môn dưới chân Kỳ đài sừng sững “Cửu vị thần công”. Chín khẩu đại bác cổ, bên phải 5 khẩu bên trái 4 khẩu- bà ngoại tôi thường dặn với theo- cháu đi qua nơi đó nhớ đừng quên ngả nón cúi đầu. Nhiều huyền thoại được người xưa truyền tụng: Súng thần linh thiêng lắm, có cậu bé hiếu kỳ leo lên họng súng nhìn vào bên trong bị nuốt chửng chẳng thấy hơi tăm. Người đau ốm do vương vào cửu vị phải mời thầy cúng gọi ba hồn bảy vía hay chín vía lạy tạ thần công mới mong qua khỏi. Chuyện cung đình nhà Nguyễn kể rằng: Vua Tự Đức dự định đưa Cửu vị thần công xung trận- quân lính dùng xe song mã kéo nhưng thần công án binh bất động- không hề nhúc nhích. Nhà vua phải cử quan Ngự sử dự khán và xuống chiếu: Nếu ngài bất tuân thì sẽ phạt đánh 50 trượng và giáng chức. Tuyên chiếu xong, ngựa kéo thần công bỗng nhiên ung dung nhẹ nhàng cất bước.
Dấu chân Thành Nội- tôi lẫm nhẫm, mới đó đã gần 40 năm xa trường xa bạn bè ngày tháng cũ. Thế hệ chúng tôi thuở ấy đến trường trong bề bộn lo toan- chiến cuộc biến động từ làng lên phố, mỗi bận hè qua lớp học thưa vắng, bạn bè vơi dần- đứa bị đôn quân, đứa đành nghỉ học, đứa xa rời Huế vật lộn mưu sinh, và bao đứa khác bám trụ cố giữ chút yên bình… Năm rồi điện thoại từ Huế Lê Quang Tùng, Đặng Thọ, Hoàng Đình Huề, Trần Quang Hải, Trần Đạo Dõng hẹn hò: -Hồi xưa tụi mình đã có “Ra Khơi”, “Lướt Sóng” giờ cố lên để chuẩn bị cho chuyến “Về Nguồn”- giọng Đặng Thọ vẫn nhiệt thành như ngày nào, những hôm năm xưa chật vật, xoay xở bài vở để “Lướt Sóng”- đặc san cuối bậc học phổ thông của năm12B1 Hàm Nghi ra đời…Ước gì, cuốn lưu bút ngày xưa đó- có bạn cũ nào còn lưu giữ cho đến bây giờ?
Tôi nhớ…Năm học đệ tam B2 (lớp 10 bây giờ), cô Nguyễn Thị Tuyết dạy Việt văn đã bắt cả lớp quỳ lên bàn. Hàng phượng ngoài đường thấp thoáng có nhóm nữ sinh Thành Nội tan học sớm, họ nhìn chỉ trỏ rồi ồ lên cười khúc khích, có người còn đồng dao: Lêu lêu trò A bị quỳ/ Không thuộc bài là xấu nghe chưa…Là xấu nghe chưa… Nhóm chúng tôi cửa sổ nhìn ra ai nấy ngượng chín cả người. Cô Tuyết có còn nhớ không? Con vẫn nhớ như in bài ca dao năm cũ cô giảng: “Trăm năm dầu lỗi hẹn hò/ Cây đa bến cũ con đò khác đưa”- cô đã mở bài và mở ra điều thú vị rằng: Bến cũ là từ chung còn người Huế phải là “bến cộ” mới phải và nếu được phép phóng tác thêm câu ca dao- lời tiếp sẽ là: “Cây đa bến cộ còn lưa/ Con đò đã thác năm xưa tê rồi”. Bao năm xa Huế xa trường con vẫn nhớ lời cô- những chữ ‘cộ”, chữ “lưa”, chữ “mô” “tê” “răng rứa” ngày ấy…và bao điều khác nữa để mang đi suốt một đời…
Thành Nội- những ngày nghỉ học đạp xe lang thang, hàng trăm con đường nhỏ, từng đoạn từng đoạn ngắn quẹo phải rồi rẽ trái và bất chợt gặp người quen có khi chẳng hề biết tuổi tên. Những tên đường tên phố đã thành quen thuộc hiện về trong ký ức: Ông Ích Khiêm, Hàn Thuyên, Nguyễn Biểu, Lê Thánh Tôn, Tống Duy Tân, Tịnh Tâm, Thượng Thành, Ngã Tư Anh Danh, Cầu Kho, Chợ Xép, Tây Lộc,…Thầy Võ Văn Dật (Võ Hương An) dưới mái trường Hàm Nghi- người thầy mà chúng tôi một mực kính yêu và ngưỡng mộ đã công phu uyên áo viết “Đường Xưa Thành Nội”- trong tập “Huế Của Một Thời”. Thầy ơi! Con đã đọc Huế…của thầy như bài sử ngày xưa thầy giảng, như được trở về với Thành Nội và trường xưa yêu dấu, như được sống lại trong vòng tay thân ái của bạn bè và hiểu thêm bao nỗi lòng của những đứa con Huế xa…
Hàm Nghi trường tôi nhỏ nhắn và khiêm tốn so với Quốc Học hay Đồng Khánh. Vậy mà chúng tôi mỗi đứa lại có niềm kiêu hãnh riêng về trường mình. Hàm Nghi ông vua triều Nguyễn yêu nước, từ bỏ cung son cởi áo bào cùng dân đánh giặc- ban hịch Cần Vương hiệu triệu sĩ phu giúp vua chống Pháp- đã sống mãi trong lòng dân nước. - Vậy nếu công cuộc kháng chiến đòi hỏi đi vào sống trong rừng sâu, Ngài có đi không? - Tôn Thất Thuyết hỏi. - Đi đâu cũng đi, sống thế nào cũng được, miễn là đuổi cho giặc Pháp ra khỏi đất nước - nhà vua đã trả lời giọng trầm, chậm rãi nhưng kiên quyết. Câu trả lời của ông vua vừa tròn 14 tuổi quả là ý chí và bản lĩnh- nặng lòng với sơn hà xã tắc.
Mười giờ đêm 26 tháng 9 năm 1888, Trương Quang Ngọc và Nguyễn Đình Tình đem hơn 20 lính Mường vào bao vây lều tranh của vua Hàm Nghi trên bờ khe Tả Bảo (Tuyên Hóa- Quảng Bình). Nghe bên ngoài có tiếng động, quan Thống chế Nguyễn Thúy và con trai ông chạy ra, bị tên Ngọc đâm chết tại chỗ. Tôn Thất Thiệp, con út Tôn Thất Thuyết còn đang ngủ, hoảng hốt cầm gươm nhảy ra cũng bị một tên lính Mường phóng ngọn giáo vào ngực chết ngay. Biết mình bị phản, vua Hàm Nghi bước ra, ung dung cầm thanh gươm đưa cho Trương Quang Ngọc và bảo rằng: “Mày giết tao đi còn hơn đưa tao về nộp cho Tây”. Vua vừa nói dứt lời thì một tên lính Mường lẻn ra sau lưng ôm quàng lấy Người rồi giật thanh gươm ra. Từ đó, nhà vua tịnh khẩu - không nói nửa lời…
Chuyện rằng: Trong suốt thời gian lưu đày- sang Alger thủ đô nước Algerie thuộc địa của Pháp bên bờ Địa Trung Hải, nhà vua luôn hướng về cố quốc. Theo công chúa Như Mai (nay đã mất), khi vua Bảo Đại qua Alger thăm có mang cho ông một số tiền, nhưng vua Hàm Nghi không nhận và khuyên Bảo Đại nên đem tiền về lo cho dân nghèo. Trong những năm tháng buồn bã của cuộc đời lưu đày, ông tìm niềm vui trong âm nhạc và hội họa, luôn mặc quốc phục áo dài khăn đóng với đầu tóc búi tó củ hành đặc trưng truyền thống Việt Nam...
Chúng tôi tự hào ngôi trường yêu dấu của một thời áo trắng Huế mang tên ông vua yêu nước Hàm Nghi. Và ngày xưa ấy, đặc san “Ra khơi” của thầy trò chúng tôi đã có truyện ngắn tuyệt vời “Lửa Trường Sơn” của Nguyễn Văn Thêm 12B1 (đệ nhất)- nhân vật chính là ông vua yêu nước trẻ và tên phản tặc xảo quyệt Trương Quang Ngọc- dù chỉ khiêm tốn dòng chữ trang giấy nhưng riêng tôi đã tiếp nhận trong thổn thức và … tâm phục coi đó là hiện tuợng “Văn sử bất phân”. Thêm giờ đang làm gì ở đâu? Tới bến bờ nào của văn chương? Có nhớ về năm tháng Hàm Nghi và bài văn trong “Ra khơi” dấu chân kỷ niệm?
Mấy hôm trước Hồ Xuân Bích, Nguyễn Trọng Minh, Huỳnh Hữu Khánh điện thoại và nhắn tin khẩn: Họp mặt thất 2, 1964-1971 vào tháng 11- cố về. Bao nhiêu năm xa cách vậy mà Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn hay tận nơi xứ người xa xăm…đi đâu làm gì cũng đau đáu về thầy cô trường lớp bạn bè Hàm Nghi một thuở- điều mà chính tôi người trong cuộc không lý giải nổi? Ái hữu Hàm Nghi đã ra mắt cuốn Đặc san thứ 8 về trường xưa kỷ niệm. Giữa bao chồng chất bề bộn- nỗi riêng niềm chung- trang sách Hàm Nghi mở ra ký ức tuổi thơ ùa về- những lúc như thế tôi như nghe lòng bình yên, thanh thản- nhẹ gánh lo toan, được trở về tìm lại góc nhỏ ngày xưa vô tư vụng dại của tuổi học trò…
Dấu chân Thành Nội những ngày Huế mưa, chao ôi là buồn. Thi nhân kim cổ đề thi ngàn vạn trang mưa Huế vẫn còn đâu đó- chưa thể treo lên lầu cao. Mùa mưa dai dẳng lê thê trên đất Huế. Mưa thúi đất thúi đai, trắng trời trắng đất, mưa cả tháng không thấy ánh mặt trời. Mưa từ tháng 7, 8 cho tới giêng hai. Hoàng thành xưa nhuộm thêm màu cổ kính. Màu ngói rêu phong phủ dày trên những ngôi nhà cổ. Từng con đường, góc phố vội vã bước chân qua, Thành Nội trầm mặc lặng lẽ giữa các cô cậu học trò lầm lũi trong mưa...
Tuổi cắp sách ai mà không thích những ngày nghỉ học trời… cho. Lụt. Khắp mọi ngả đường vàng đất một màu nước, bầu trời gần hơn- một màu xám âm u lạnh lẽo…Tầm tả mưa, mưa như trút- chuyện nơi xứ này trời hành cơn lụt mỗi năm…như quà tặng của đất trời. Đò Thừa Phủ không đưa, nước tràn Đập Đá lội qua không được; Bao Vinh, Kim Long, Chợ Cống, Đông Ba, Gia Hội…mênh mang một màu sông nước- nước từ thượng nguồn Trường Sơn đổ về ầm ào như thác đổ, sông Hương cuồn cuộn sóng cuốn phăng về cửa biển Thuận An. Lũ chúng tôi xăn quần túm áo lội lụt, vô tới hồ Tịnh Tâm coi rớ cá. Chạy đuổi nhau trợt ngã, về nhà đứa nào đứa nấy ướt như chuột lột.
Lớn lên thêm chút biết mẹ lo âu, lụt chắc năm ni- mùa màng ngoài quê thất bát, bà con mình thiếu gạo ngày đông lạnh, tết này biết lấy chi mà lo tết…Những năm lụt to, nhìn bà con bồn chồn ra vô đứng ngồi trông ngóng- người thân đi mô đó chưa kịp về, thẩn thờ biết răng chừ- chuyện lành ít dữ nhiều. Gia đình chị nớ mất người trôi luôn cả cửa nhà rồi đây lấy chi mà sống…Quê hương em nghèo lắm ai ơi/ Mùa đông thiếu áo hè thời thiếu ăn… Thương Huế chi lạ …
Người tôi yêu nhà phía bên kia hữu ngạn sông Hương. Chúng tôi quen nhau hồi miền núi A Lưới. Những ngày đằm thắm bên nhau chóng qua, chúng tôi mất nhau ngày tôi khăn gói vào Sài Gòn tiếp tục việc học dở dang. Tiếc nuối phỏng có ích gì, duyên phận không thành thôi đành ngậm ngùi buông lơi…Những lần về Huế chẳng hiểu vì sao chúng tôi ít có dịp gặp nhau. Chàng nhạc sĩ tài hoa đất Huế TCS. đã viết ca từ và giai điệu “Này em có nhớ” trong tuyệt vọng những ngày xa và nhớ “Chúa đã bỏ loài người/ Phật đã bỏ loài người/ Này em xin cứ phụ người/ Này em xin cứ phụ tôi/ Đời sống quanh đây có vạn lời mời/ Đời sống quanh đây tiếng người mừng gọi em vào/ Đời đã quen với những kiếp xa nhau…”. Chúng tôi duyên phận không thành- thôi thì…cầm bằng như thể mưa sa lưng đồi…MH giờ đang với Huế cũng chẳng …êm ái gì, phải chi…em đừng…
Tôi đã bỏ Huế bỏ Thành Nội mà đi, chừng ấy năm loay hoay bạc tóc chẳng làm nên công cán gì. Cảnh cũ người xưa đà khác, thầy tôi bảo: “Sự đổi thay không đến từ thiên nhiên; tất cả đều do con người, là những lớp sóng phế hưng của thời đại tác động qua năm tháng. Trong dòng đổi thay đó cũng thấy mình trong ấy, thấp thoáng bóng buồn vui…Cũng may còn cái tên Thành Nội để nhớ”. Cũng may giờ đã có ngôi trường Hàm Nghi mới để mỗi chúng tôi có dịp quay về- tìm kiếm bước chân ngày tháng cũ.
Trường tôi…Hàm Nghi. Ngày ấy rời trường tôi vào sư phạm. Gần 35 năm trên bục giảng tôi đã đi đến nhiều vùng đất nước, dừng chân nhiều loại hình trường lớp, có bao mối quan hệ nghĩa thầy trò, dạy và học, tình bạn bè- thế mà trong tôi trường xưa Hàm Nghi- dấu chân Thành Nội vẫn luôn là nỗi nhớ khôn nguôi- hành trang yêu thương mang theo và để thôi thúc bước chân về…
Lê Quang Kết, 20 Nguyễn Thái Bình, Tp. Bảo Lộc- ĐT: 0633 717 123 - 0907 615 510
Email: lequang54@gmail.com
DẤU CHÂN THÀNH NỘI
Lê Quang Kết
Giai điệu và lời hát đưa tôi về ngày tháng cũ- dấu chân một thuở “phượng hồng”: “Đường về Thành Nội chiều sương mây bay/ Em đến quê anh đã bao ngày/ Đường về Thành Nội chiều sương nắng mới ơ ơ ơ/ Hoa nở hương nồng bay khắp trời/ Em đi vô Thành Nội nghe rộn lòng yêu thương/ Anh qua bao cánh rừng núi đồi về sông Hương/ Về quê mình lòng mừng vui không nói nên lời…”( Nguyễn Phước Huỳnh Đệ). Thành Nội với Huế với tôi đã thành danh từ riêng trong miên man nhớ. Nơi đó lũ chúng tôi đã có những kỷ niệm ngày xanh đằm thắm, hoang nghịch và hồn nhiên tuổi học trò…
Làng quê chiến tranh tan tác, tôi lên Huế học trường Hàm Nghi- vốn là Quốc tử giám của Triều đình nhà Nguyễn.Vào cửa Thượng Tứ phía trái mấy bước chân là gặp ngay trường tôi nằm khiêm tốn xen giữa hàng nhãn lâu năm trên đường Đinh Bộ Lĩnh và hàng phượng phía bên kia đường Đoàn Thị Điểm. Ấn tượng đến trường với tôi là mỗi bận đi qua Cửa Ngăn- hai bên Quãng trường Ngọ Môn dưới chân Kỳ đài sừng sững “Cửu vị thần công”. Chín khẩu đại bác cổ, bên phải 5 khẩu bên trái 4 khẩu- bà ngoại tôi thường dặn với theo- cháu đi qua nơi đó nhớ đừng quên ngả nón cúi đầu. Nhiều huyền thoại được người xưa truyền tụng: Súng thần linh thiêng lắm, có cậu bé hiếu kỳ leo lên họng súng nhìn vào bên trong bị nuốt chửng chẳng thấy hơi tăm. Người đau ốm do vương vào cửu vị phải mời thầy cúng gọi ba hồn bảy vía hay chín vía lạy tạ thần công mới mong qua khỏi. Chuyện cung đình nhà Nguyễn kể rằng: Vua Tự Đức dự định đưa Cửu vị thần công xung trận- quân lính dùng xe song mã kéo nhưng thần công án binh bất động- không hề nhúc nhích. Nhà vua phải cử quan Ngự sử dự khán và xuống chiếu: Nếu ngài bất tuân thì sẽ phạt đánh 50 trượng và giáng chức. Tuyên chiếu xong, ngựa kéo thần công bỗng nhiên ung dung nhẹ nhàng cất bước.
Dấu chân Thành Nội- tôi lẫm nhẫm, mới đó đã gần 40 năm xa trường xa bạn bè ngày tháng cũ. Thế hệ chúng tôi thuở ấy đến trường trong bề bộn lo toan- chiến cuộc biến động từ làng lên phố, mỗi bận hè qua lớp học thưa vắng, bạn bè vơi dần- đứa bị đôn quân, đứa đành nghỉ học, đứa xa rời Huế vật lộn mưu sinh, và bao đứa khác bám trụ cố giữ chút yên bình… Năm rồi điện thoại từ Huế Lê Quang Tùng, Đặng Thọ, Hoàng Đình Huề, Trần Quang Hải, Trần Đạo Dõng hẹn hò: -Hồi xưa tụi mình đã có “Ra Khơi”, “Lướt Sóng” giờ cố lên để chuẩn bị cho chuyến “Về Nguồn”- giọng Đặng Thọ vẫn nhiệt thành như ngày nào, những hôm năm xưa chật vật, xoay xở bài vở để “Lướt Sóng”- đặc san cuối bậc học phổ thông của năm12B1 Hàm Nghi ra đời…Ước gì, cuốn lưu bút ngày xưa đó- có bạn cũ nào còn lưu giữ cho đến bây giờ?
Tôi nhớ…Năm học đệ tam B2 (lớp 10 bây giờ), cô Nguyễn Thị Tuyết dạy Việt văn đã bắt cả lớp quỳ lên bàn. Hàng phượng ngoài đường thấp thoáng có nhóm nữ sinh Thành Nội tan học sớm, họ nhìn chỉ trỏ rồi ồ lên cười khúc khích, có người còn đồng dao: Lêu lêu trò A bị quỳ/ Không thuộc bài là xấu nghe chưa…Là xấu nghe chưa… Nhóm chúng tôi cửa sổ nhìn ra ai nấy ngượng chín cả người. Cô Tuyết có còn nhớ không? Con vẫn nhớ như in bài ca dao năm cũ cô giảng: “Trăm năm dầu lỗi hẹn hò/ Cây đa bến cũ con đò khác đưa”- cô đã mở bài và mở ra điều thú vị rằng: Bến cũ là từ chung còn người Huế phải là “bến cộ” mới phải và nếu được phép phóng tác thêm câu ca dao- lời tiếp sẽ là: “Cây đa bến cộ còn lưa/ Con đò đã thác năm xưa tê rồi”. Bao năm xa Huế xa trường con vẫn nhớ lời cô- những chữ ‘cộ”, chữ “lưa”, chữ “mô” “tê” “răng rứa” ngày ấy…và bao điều khác nữa để mang đi suốt một đời…
Thành Nội- những ngày nghỉ học đạp xe lang thang, hàng trăm con đường nhỏ, từng đoạn từng đoạn ngắn quẹo phải rồi rẽ trái và bất chợt gặp người quen có khi chẳng hề biết tuổi tên. Những tên đường tên phố đã thành quen thuộc hiện về trong ký ức: Ông Ích Khiêm, Hàn Thuyên, Nguyễn Biểu, Lê Thánh Tôn, Tống Duy Tân, Tịnh Tâm, Thượng Thành, Ngã Tư Anh Danh, Cầu Kho, Chợ Xép, Tây Lộc,…Thầy Võ Văn Dật (Võ Hương An) dưới mái trường Hàm Nghi- người thầy mà chúng tôi một mực kính yêu và ngưỡng mộ đã công phu uyên áo viết “Đường Xưa Thành Nội”- trong tập “Huế Của Một Thời”. Thầy ơi! Con đã đọc Huế…của thầy như bài sử ngày xưa thầy giảng, như được trở về với Thành Nội và trường xưa yêu dấu, như được sống lại trong vòng tay thân ái của bạn bè và hiểu thêm bao nỗi lòng của những đứa con Huế xa…
Hàm Nghi trường tôi nhỏ nhắn và khiêm tốn so với Quốc Học hay Đồng Khánh. Vậy mà chúng tôi mỗi đứa lại có niềm kiêu hãnh riêng về trường mình. Hàm Nghi ông vua triều Nguyễn yêu nước, từ bỏ cung son cởi áo bào cùng dân đánh giặc- ban hịch Cần Vương hiệu triệu sĩ phu giúp vua chống Pháp- đã sống mãi trong lòng dân nước. - Vậy nếu công cuộc kháng chiến đòi hỏi đi vào sống trong rừng sâu, Ngài có đi không? - Tôn Thất Thuyết hỏi. - Đi đâu cũng đi, sống thế nào cũng được, miễn là đuổi cho giặc Pháp ra khỏi đất nước - nhà vua đã trả lời giọng trầm, chậm rãi nhưng kiên quyết. Câu trả lời của ông vua vừa tròn 14 tuổi quả là ý chí và bản lĩnh- nặng lòng với sơn hà xã tắc.
Mười giờ đêm 26 tháng 9 năm 1888, Trương Quang Ngọc và Nguyễn Đình Tình đem hơn 20 lính Mường vào bao vây lều tranh của vua Hàm Nghi trên bờ khe Tả Bảo (Tuyên Hóa- Quảng Bình). Nghe bên ngoài có tiếng động, quan Thống chế Nguyễn Thúy và con trai ông chạy ra, bị tên Ngọc đâm chết tại chỗ. Tôn Thất Thiệp, con út Tôn Thất Thuyết còn đang ngủ, hoảng hốt cầm gươm nhảy ra cũng bị một tên lính Mường phóng ngọn giáo vào ngực chết ngay. Biết mình bị phản, vua Hàm Nghi bước ra, ung dung cầm thanh gươm đưa cho Trương Quang Ngọc và bảo rằng: “Mày giết tao đi còn hơn đưa tao về nộp cho Tây”. Vua vừa nói dứt lời thì một tên lính Mường lẻn ra sau lưng ôm quàng lấy Người rồi giật thanh gươm ra. Từ đó, nhà vua tịnh khẩu - không nói nửa lời…
Chuyện rằng: Trong suốt thời gian lưu đày- sang Alger thủ đô nước Algerie thuộc địa của Pháp bên bờ Địa Trung Hải, nhà vua luôn hướng về cố quốc. Theo công chúa Như Mai (nay đã mất), khi vua Bảo Đại qua Alger thăm có mang cho ông một số tiền, nhưng vua Hàm Nghi không nhận và khuyên Bảo Đại nên đem tiền về lo cho dân nghèo. Trong những năm tháng buồn bã của cuộc đời lưu đày, ông tìm niềm vui trong âm nhạc và hội họa, luôn mặc quốc phục áo dài khăn đóng với đầu tóc búi tó củ hành đặc trưng truyền thống Việt Nam...
Chúng tôi tự hào ngôi trường yêu dấu của một thời áo trắng Huế mang tên ông vua yêu nước Hàm Nghi. Và ngày xưa ấy, đặc san “Ra khơi” của thầy trò chúng tôi đã có truyện ngắn tuyệt vời “Lửa Trường Sơn” của Nguyễn Văn Thêm 12B1 (đệ nhất)- nhân vật chính là ông vua yêu nước trẻ và tên phản tặc xảo quyệt Trương Quang Ngọc- dù chỉ khiêm tốn dòng chữ trang giấy nhưng riêng tôi đã tiếp nhận trong thổn thức và … tâm phục coi đó là hiện tuợng “Văn sử bất phân”. Thêm giờ đang làm gì ở đâu? Tới bến bờ nào của văn chương? Có nhớ về năm tháng Hàm Nghi và bài văn trong “Ra khơi” dấu chân kỷ niệm?
Mấy hôm trước Hồ Xuân Bích, Nguyễn Trọng Minh, Huỳnh Hữu Khánh điện thoại và nhắn tin khẩn: Họp mặt thất 2, 1964-1971 vào tháng 11- cố về. Bao nhiêu năm xa cách vậy mà Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn hay tận nơi xứ người xa xăm…đi đâu làm gì cũng đau đáu về thầy cô trường lớp bạn bè Hàm Nghi một thuở- điều mà chính tôi người trong cuộc không lý giải nổi? Ái hữu Hàm Nghi đã ra mắt cuốn Đặc san thứ 8 về trường xưa kỷ niệm. Giữa bao chồng chất bề bộn- nỗi riêng niềm chung- trang sách Hàm Nghi mở ra ký ức tuổi thơ ùa về- những lúc như thế tôi như nghe lòng bình yên, thanh thản- nhẹ gánh lo toan, được trở về tìm lại góc nhỏ ngày xưa vô tư vụng dại của tuổi học trò…
Dấu chân Thành Nội những ngày Huế mưa, chao ôi là buồn. Thi nhân kim cổ đề thi ngàn vạn trang mưa Huế vẫn còn đâu đó- chưa thể treo lên lầu cao. Mùa mưa dai dẳng lê thê trên đất Huế. Mưa thúi đất thúi đai, trắng trời trắng đất, mưa cả tháng không thấy ánh mặt trời. Mưa từ tháng 7, 8 cho tới giêng hai. Hoàng thành xưa nhuộm thêm màu cổ kính. Màu ngói rêu phong phủ dày trên những ngôi nhà cổ. Từng con đường, góc phố vội vã bước chân qua, Thành Nội trầm mặc lặng lẽ giữa các cô cậu học trò lầm lũi trong mưa...
Tuổi cắp sách ai mà không thích những ngày nghỉ học trời… cho. Lụt. Khắp mọi ngả đường vàng đất một màu nước, bầu trời gần hơn- một màu xám âm u lạnh lẽo…Tầm tả mưa, mưa như trút- chuyện nơi xứ này trời hành cơn lụt mỗi năm…như quà tặng của đất trời. Đò Thừa Phủ không đưa, nước tràn Đập Đá lội qua không được; Bao Vinh, Kim Long, Chợ Cống, Đông Ba, Gia Hội…mênh mang một màu sông nước- nước từ thượng nguồn Trường Sơn đổ về ầm ào như thác đổ, sông Hương cuồn cuộn sóng cuốn phăng về cửa biển Thuận An. Lũ chúng tôi xăn quần túm áo lội lụt, vô tới hồ Tịnh Tâm coi rớ cá. Chạy đuổi nhau trợt ngã, về nhà đứa nào đứa nấy ướt như chuột lột.
Lớn lên thêm chút biết mẹ lo âu, lụt chắc năm ni- mùa màng ngoài quê thất bát, bà con mình thiếu gạo ngày đông lạnh, tết này biết lấy chi mà lo tết…Những năm lụt to, nhìn bà con bồn chồn ra vô đứng ngồi trông ngóng- người thân đi mô đó chưa kịp về, thẩn thờ biết răng chừ- chuyện lành ít dữ nhiều. Gia đình chị nớ mất người trôi luôn cả cửa nhà rồi đây lấy chi mà sống…Quê hương em nghèo lắm ai ơi/ Mùa đông thiếu áo hè thời thiếu ăn… Thương Huế chi lạ …
Người tôi yêu nhà phía bên kia hữu ngạn sông Hương. Chúng tôi quen nhau hồi miền núi A Lưới. Những ngày đằm thắm bên nhau chóng qua, chúng tôi mất nhau ngày tôi khăn gói vào Sài Gòn tiếp tục việc học dở dang. Tiếc nuối phỏng có ích gì, duyên phận không thành thôi đành ngậm ngùi buông lơi…Những lần về Huế chẳng hiểu vì sao chúng tôi ít có dịp gặp nhau. Chàng nhạc sĩ tài hoa đất Huế TCS. đã viết ca từ và giai điệu “Này em có nhớ” trong tuyệt vọng những ngày xa và nhớ “Chúa đã bỏ loài người/ Phật đã bỏ loài người/ Này em xin cứ phụ người/ Này em xin cứ phụ tôi/ Đời sống quanh đây có vạn lời mời/ Đời sống quanh đây tiếng người mừng gọi em vào/ Đời đã quen với những kiếp xa nhau…”. Chúng tôi duyên phận không thành- thôi thì…cầm bằng như thể mưa sa lưng đồi…MH giờ đang với Huế cũng chẳng …êm ái gì, phải chi…em đừng…
Tôi đã bỏ Huế bỏ Thành Nội mà đi, chừng ấy năm loay hoay bạc tóc chẳng làm nên công cán gì. Cảnh cũ người xưa đà khác, thầy tôi bảo: “Sự đổi thay không đến từ thiên nhiên; tất cả đều do con người, là những lớp sóng phế hưng của thời đại tác động qua năm tháng. Trong dòng đổi thay đó cũng thấy mình trong ấy, thấp thoáng bóng buồn vui…Cũng may còn cái tên Thành Nội để nhớ”. Cũng may giờ đã có ngôi trường Hàm Nghi mới để mỗi chúng tôi có dịp quay về- tìm kiếm bước chân ngày tháng cũ.
Trường tôi…Hàm Nghi. Ngày ấy rời trường tôi vào sư phạm. Gần 35 năm trên bục giảng tôi đã đi đến nhiều vùng đất nước, dừng chân nhiều loại hình trường lớp, có bao mối quan hệ nghĩa thầy trò, dạy và học, tình bạn bè- thế mà trong tôi trường xưa Hàm Nghi- dấu chân Thành Nội vẫn luôn là nỗi nhớ khôn nguôi- hành trang yêu thương mang theo và để thôi thúc bước chân về…
Lê Quang Kết, 20 Nguyễn Thái Bình, Tp. Bảo Lộc- ĐT: 0633 717 123 - 0907 615 510
Email: lequang54@gmail.com
Thứ Ba, 4 tháng 10, 2011
Từ Đàm- Mái chùa một thuở dấu yêu
Tùy bút
TỪ ĐÀM- MÁI CHÙA MỘT THUỞ DẤU YÊU
Lê Quang Kết
Từ Đàm là nơi tôi quy y học Phật năm tròn 6 tuổi. Bổn sư là cố Hòa Thượng Thiện Siêu, tôi nhớ và in sâu trong tâm bài pháp buổi đầu tiên dưới mái chùa “Con dao trong tâm”- mà lời thầy ngày xưa như còn vang vọng: “…Không, tôi không có nói ông quăng con dao bén trong tay ông, tôi muốn ông quăng con dao bén trong tâm ông kia mà”. Ôi, Từ Đàm ôi Huế! Tôi đã bỏ chùa xa quê mấy chục năm trời, đem thân nơi chốn bụi trần mà lòng chẳng an. Mỗi bận chiều về, lòng quay quắt nỗi nhớ chùa xa…
Lòng đang ngổn ngang trăm mối- rối như tơ vò bỗng yên bình nhẹ gánh khi nghe giai điệu và ca từ.
“Quê hương tôi miền Trung, sớm hôm chuông chùa nhẹ rung tiếng muôn đời Tổ tiên kiêu hùng. Ôi uy nghiêm bóng chùa Từ Đàm, nơi yêu thương phát nguồn Đạo vàng, qua bao dông tố chùa Từ Đàm tôi vẫn còn.
Quê hương tôi là đây, sớm hôm hương trầm nhẹ bay, vấn vương lời kinh chiều nay vơi đầy. Ôi anh linh bóng chùa Từ Đàm, nơi Bắc Nam nối liền một nhà, tay trong tay quyết vì loài người còn lầm than…”.
Nhạc sĩ Văn Giảng -thầy tôi sáng tác bài hát này- tựa đề chỉ “Từ Đàm quê hương tôi”, không có chữ Chùa đằng trước, sau này hình như người ta thêm thì phải. Bởi một lẽ giản đơn Từ Đàm đã là Mây Hiền và trong đó ẩn chứa khái niệm Mái Chùa lành- thì cần chi phải nói thừa ra không cần thiết. Điều vô tâm mãi sau tôi mới tỏ- thầy Văn Giảng dưới mái trường Hàm Nghi- Huế ngày đó còn có bút danh Thông Đạt, Nguyên Thông và là tác giả bài hát nổi tiếng “Ai về sông Tương” tài hoa tuyệt vời không cũ đi theo dấu ấn thời gian…Thầy ơi, con là cậu học trò hư đốn xin tạ tội với thầy. Chính con đã hát hàng triệu lần “Ai có về trên bến sông Tương/ Nhắn người duyên dáng tôi thương…” cũng chẳng nhận ra tác giả là người thầy yêu kính khiêm tốn của mình dưới mái trường ngày ấy.
Từ Đàm của thời đồng ấu chúng tôi, Từ Đàm của bài học từ bi hỉ xả, Từ Đàm của dây thân ái lan rộng muôn nhà…Thầy Văn Giảng ơi, giờ người tuổi già tận trời xa- con xin cảm ơn thầy hàng triệu triệu lần giai điệu và ca từ “Từ Đàm quê hương tôi” nhẹ nhàng sâu lắng thiết tha dìu dặt đã đưa chúng con trở về với ngày tháng Từ Đàm yêu dấu…
Nhớ Từ Đàm mùa pháp nạn 1963, những đứa con hiền như Bụt vụt đứng dậy vươn cao dữ dội- có cả lửa thiêng và bão tố xua tan bạo quyền áp bức. Ngọn lửa thầy Tiêu Diêu tiếp cho Từ Đàm và lớp lớp con Phật “Uy vũ bất năng khuất”. Thầy Trí Quang trước sân chùa Từ Đàm đã cất cao tiếng nói đại hùng đại lực trong hai cuộc biểu tình ngày 10 và 15 tháng 5 năm 1963: “-Phật giáo đồ chỉ ủng hộ chính sách bình đẳng tôn giáo! - Đã đến lúc chúng tôi bị bắt buộc phải tranh đấu cho chủ trương tôn giáo bình đẳng! - Chúng tôi không từ chối một hy sinh nào! - Cờ Phật giáo quốc tế không thể bị triệt hạ! - Phật giáo đồ nhất trí bảo vệ Chánh pháp dù phải hy sinh! - Phản đối chính sách bất công gian ác!”.
Ngày ấy- lần đầu tiên cậu bé oanh vũ trong tôi hiểu hai chữ bất khuất của Phật giáo trước cường quyền. Đỉnh cao của sự giàu sang cũng không được phép đàng điếm, dâm ô, phung phí, hưởng lạc, trác táng, đồi trụy. Tận cùng của nghèo nàn, khổ sở cũng cố giữ gìn nhân phẩm, giá trị con người, không được dời đổi, đánh mất nhân cách của mình, không được làm những gì trái luân thường đạo lý. Trước cường quyền, bạo lực, không khiếp nhược, hèn hạ, quỳ lụy, cầu xin để trở thành nô lệ kẻ khác. Không bị mê hoặc bởi lý tưởng của ai như kẻ cuồng tín chủ nghĩa- cũng còn có nghĩa là không nên đem cái lý tưởng, cái ý kiến của mình để áp đặt, khống chế ai, bắt buộc phải tuân phục ý kiến mình, bài bác hết mọi ý kiến, lý lẽ nào trái với ý mình. Bao năm rồi xa Từ Đàm con vẫn nhớ lời thầy một thuở Từ Đàm như uống triệu lời kinh…
Nhớ Từ Đàm- đó là những ngày cắm trại của đoàn áo lam thân ái. Thời ấy chúng tôi chỉ có thể đôi chân đi bộ, hiếm hoi mới có mấy anh cỡi xe đạp. Những buổi trưa hè nắng gắt nhóm chúng tôi dịch vội mật thư rồi ào chạy xuống Báo Quốc qua Tường Vân lên tận Từ Hiếu, có hôm tìm được “hủ vàng” nhưng mở ra chỉ mấy cây kẹo bọc giấy vàng- mồ hôi mồ kê nhễ nhại, mệt đứt hơi thế mà vô tư vui vẻ… Giật giải trò chơi lớn mỗi kỳ trại là bề dày thành tích của cả ba đứa - có nhớ không Thành, Hữu một thời gia đình Phật tử Từ Đàm? Mùa mưa lê thê xứ Huế, chúng tôi vẫn kiên trì đội nón mang tơi lên chùa sinh hoạt. Mẹ bảo: Các con giỏi lắm! Cố giữ tâm Phật cho tới cuối trời góc biển. Mẹ ơi! Mẹ, Từ Đàm và Huế nuôi con lớn khôn đủ lông đủ cánh rồi biền biệt soãi cánh bay xa. Bao nợ nần lần lữa hẹn hò mà có trả được gì đâu?
Từ Đàm với Huế tuy hai mà một. Ngôi chùa là biểu trưng -là máu thịt của Huế của tôi. Từ Đàm trong tâm thức- đó là tiếng kinh mỗi buổi công phu, giọng thầy trầm ấm như dặn dò dạy bảo chúng con làm lành tránh dữ, kỉnh Phật trọng tăng, dứt lòng tà, giữ lòng thành; trong sạch thể chất và tinh thần- lời nói và việc làm để vươn tới viên mãn trên đường đạo.
Bốn mươi năm xa Huế xa mái chùa dấu yêu, tôi như đứa trẻ bơ vơ lạc loài đất khách. Chiều nay từ nơi xa bần thần nhớ chùa xưa lòng thầm nhủ- dù chậm hay muộn màng nhưng thế nào tôi cũng trở về mái chùa tuổi thơ …
-------------------------------------------------------------------------------------
Lê Quang Kết
20 Nguyễn Thái Bình, Phường 2, Tp. Bảo Lộc- Lâm Đồng
ĐT: 0633 717 123 - 0907 615 510
Email: lequang54@gmail.com
TỪ ĐÀM- MÁI CHÙA MỘT THUỞ DẤU YÊU
Lê Quang Kết
Từ Đàm là nơi tôi quy y học Phật năm tròn 6 tuổi. Bổn sư là cố Hòa Thượng Thiện Siêu, tôi nhớ và in sâu trong tâm bài pháp buổi đầu tiên dưới mái chùa “Con dao trong tâm”- mà lời thầy ngày xưa như còn vang vọng: “…Không, tôi không có nói ông quăng con dao bén trong tay ông, tôi muốn ông quăng con dao bén trong tâm ông kia mà”. Ôi, Từ Đàm ôi Huế! Tôi đã bỏ chùa xa quê mấy chục năm trời, đem thân nơi chốn bụi trần mà lòng chẳng an. Mỗi bận chiều về, lòng quay quắt nỗi nhớ chùa xa…
Lòng đang ngổn ngang trăm mối- rối như tơ vò bỗng yên bình nhẹ gánh khi nghe giai điệu và ca từ.
“Quê hương tôi miền Trung, sớm hôm chuông chùa nhẹ rung tiếng muôn đời Tổ tiên kiêu hùng. Ôi uy nghiêm bóng chùa Từ Đàm, nơi yêu thương phát nguồn Đạo vàng, qua bao dông tố chùa Từ Đàm tôi vẫn còn.
Quê hương tôi là đây, sớm hôm hương trầm nhẹ bay, vấn vương lời kinh chiều nay vơi đầy. Ôi anh linh bóng chùa Từ Đàm, nơi Bắc Nam nối liền một nhà, tay trong tay quyết vì loài người còn lầm than…”.
Nhạc sĩ Văn Giảng -thầy tôi sáng tác bài hát này- tựa đề chỉ “Từ Đàm quê hương tôi”, không có chữ Chùa đằng trước, sau này hình như người ta thêm thì phải. Bởi một lẽ giản đơn Từ Đàm đã là Mây Hiền và trong đó ẩn chứa khái niệm Mái Chùa lành- thì cần chi phải nói thừa ra không cần thiết. Điều vô tâm mãi sau tôi mới tỏ- thầy Văn Giảng dưới mái trường Hàm Nghi- Huế ngày đó còn có bút danh Thông Đạt, Nguyên Thông và là tác giả bài hát nổi tiếng “Ai về sông Tương” tài hoa tuyệt vời không cũ đi theo dấu ấn thời gian…Thầy ơi, con là cậu học trò hư đốn xin tạ tội với thầy. Chính con đã hát hàng triệu lần “Ai có về trên bến sông Tương/ Nhắn người duyên dáng tôi thương…” cũng chẳng nhận ra tác giả là người thầy yêu kính khiêm tốn của mình dưới mái trường ngày ấy.
Từ Đàm của thời đồng ấu chúng tôi, Từ Đàm của bài học từ bi hỉ xả, Từ Đàm của dây thân ái lan rộng muôn nhà…Thầy Văn Giảng ơi, giờ người tuổi già tận trời xa- con xin cảm ơn thầy hàng triệu triệu lần giai điệu và ca từ “Từ Đàm quê hương tôi” nhẹ nhàng sâu lắng thiết tha dìu dặt đã đưa chúng con trở về với ngày tháng Từ Đàm yêu dấu…
Nhớ Từ Đàm mùa pháp nạn 1963, những đứa con hiền như Bụt vụt đứng dậy vươn cao dữ dội- có cả lửa thiêng và bão tố xua tan bạo quyền áp bức. Ngọn lửa thầy Tiêu Diêu tiếp cho Từ Đàm và lớp lớp con Phật “Uy vũ bất năng khuất”. Thầy Trí Quang trước sân chùa Từ Đàm đã cất cao tiếng nói đại hùng đại lực trong hai cuộc biểu tình ngày 10 và 15 tháng 5 năm 1963: “-Phật giáo đồ chỉ ủng hộ chính sách bình đẳng tôn giáo! - Đã đến lúc chúng tôi bị bắt buộc phải tranh đấu cho chủ trương tôn giáo bình đẳng! - Chúng tôi không từ chối một hy sinh nào! - Cờ Phật giáo quốc tế không thể bị triệt hạ! - Phật giáo đồ nhất trí bảo vệ Chánh pháp dù phải hy sinh! - Phản đối chính sách bất công gian ác!”.
Ngày ấy- lần đầu tiên cậu bé oanh vũ trong tôi hiểu hai chữ bất khuất của Phật giáo trước cường quyền. Đỉnh cao của sự giàu sang cũng không được phép đàng điếm, dâm ô, phung phí, hưởng lạc, trác táng, đồi trụy. Tận cùng của nghèo nàn, khổ sở cũng cố giữ gìn nhân phẩm, giá trị con người, không được dời đổi, đánh mất nhân cách của mình, không được làm những gì trái luân thường đạo lý. Trước cường quyền, bạo lực, không khiếp nhược, hèn hạ, quỳ lụy, cầu xin để trở thành nô lệ kẻ khác. Không bị mê hoặc bởi lý tưởng của ai như kẻ cuồng tín chủ nghĩa- cũng còn có nghĩa là không nên đem cái lý tưởng, cái ý kiến của mình để áp đặt, khống chế ai, bắt buộc phải tuân phục ý kiến mình, bài bác hết mọi ý kiến, lý lẽ nào trái với ý mình. Bao năm rồi xa Từ Đàm con vẫn nhớ lời thầy một thuở Từ Đàm như uống triệu lời kinh…
Nhớ Từ Đàm- đó là những ngày cắm trại của đoàn áo lam thân ái. Thời ấy chúng tôi chỉ có thể đôi chân đi bộ, hiếm hoi mới có mấy anh cỡi xe đạp. Những buổi trưa hè nắng gắt nhóm chúng tôi dịch vội mật thư rồi ào chạy xuống Báo Quốc qua Tường Vân lên tận Từ Hiếu, có hôm tìm được “hủ vàng” nhưng mở ra chỉ mấy cây kẹo bọc giấy vàng- mồ hôi mồ kê nhễ nhại, mệt đứt hơi thế mà vô tư vui vẻ… Giật giải trò chơi lớn mỗi kỳ trại là bề dày thành tích của cả ba đứa - có nhớ không Thành, Hữu một thời gia đình Phật tử Từ Đàm? Mùa mưa lê thê xứ Huế, chúng tôi vẫn kiên trì đội nón mang tơi lên chùa sinh hoạt. Mẹ bảo: Các con giỏi lắm! Cố giữ tâm Phật cho tới cuối trời góc biển. Mẹ ơi! Mẹ, Từ Đàm và Huế nuôi con lớn khôn đủ lông đủ cánh rồi biền biệt soãi cánh bay xa. Bao nợ nần lần lữa hẹn hò mà có trả được gì đâu?
Từ Đàm với Huế tuy hai mà một. Ngôi chùa là biểu trưng -là máu thịt của Huế của tôi. Từ Đàm trong tâm thức- đó là tiếng kinh mỗi buổi công phu, giọng thầy trầm ấm như dặn dò dạy bảo chúng con làm lành tránh dữ, kỉnh Phật trọng tăng, dứt lòng tà, giữ lòng thành; trong sạch thể chất và tinh thần- lời nói và việc làm để vươn tới viên mãn trên đường đạo.
Bốn mươi năm xa Huế xa mái chùa dấu yêu, tôi như đứa trẻ bơ vơ lạc loài đất khách. Chiều nay từ nơi xa bần thần nhớ chùa xưa lòng thầm nhủ- dù chậm hay muộn màng nhưng thế nào tôi cũng trở về mái chùa tuổi thơ …
-------------------------------------------------------------------------------------
Lê Quang Kết
20 Nguyễn Thái Bình, Phường 2, Tp. Bảo Lộc- Lâm Đồng
ĐT: 0633 717 123 - 0907 615 510
Email: lequang54@gmail.com
Chủ Nhật, 4 tháng 9, 2011
NIỀM HẠNH PHÚC...
NIỀM HẠNH PHÚC VÀ ƯỚC MƠ XANH CỦA CHÀNG VÂN (*)
Lê Quang Kết
Chàng trai Nguyễn Đức Vân rất trẻ. Anh sinh ra và lớn lên với núi rừng, thừa hưởng ở cha mình một núi thơ và sự gắn bó hồn hậu với rừng xanh.
Thuở nơi này còn hoang vắng Vân đã có ngày tháng vỡ hoang đào xới trồng cây phủ xanh đồi thông Phương Bối. Bẵng một thời gian tôi nghe anh bỏ rừng về với phố thị. Một chút hụt hẫng trong tôi nhưng không- chỉ là chuyện mưu sinh và chắt chiu vốn liếng để Vân quay về với ngày xưa ấy…về với núi rừng …
Anh bảo với tôi cách đây 5 năm:- Trồng sim và vườn ca dao, đó là ý tưởng và nguyện ước của mình trên đất này…Tôi ngập ngừng e ngại :- Hay là trồng một ít cà phê hay chè để độ nhật…Nhưng chàng Vân đâu chỉ có thế!
Người kể cũng lạ. Vân chẳng qua trường lớp, ngày nhỏ trên núi mẹ dạy anh đọc viết rồi cô Sáu dạy kèm Vân mấy năm bậc tiểu học. Anh phải tìm cách tự học để hoàn tất chương trình phổ thông trung học- vươn lên làm người có ích và khẳng định mình. Cách đây 10 năm anh ra tập thơ đầu tay “Người đẹp”- một sự khổ luyện câu chữ. Nhàn đàm với Vân tôi có thêm điều bổ ích bổ sung vào trang giáo án- bài giảng môn ngữ văn.
Từ thơ anh bước vào nhạc cũng nhẹ nhàng tự nhiên từ giai điệu đến ca từ. Chỉ mấy năm ba đĩa hát “Đồi thông Phương Bối”,“Màu yêu thương”, “Hoa trái ngày thơ” ra đời. Nghệ sĩ ưu tú Tạ Minh Tâm; ca sĩ Hồng Hạnh, Thùy Dương, Thanh Thúy, Vân Khánh… đã tham gia biểu diễn và có lời khen ý vị, tương cầu. Mới đây tôi lại được đọc tập bản thảo tập thơ “Cánh hoa vừa hé” của Vân sắp in- những tứ thơ rất lạ và rất riêng của chàng trai rừng thuần khiết…Đọc thơ nghe nhạc chàng Vân, một tình cảm chân thành thấm đẫm tình yêu thiên nhiên buổi ban sơ, trân trọng nâng niu sự trong lành của cỏ cây hoa trái…
Đồi sim- ước mơ xanh của chàng Vân giờ đã hiện thực. Mùa sim năm rồi tôi đã có những ngày vui bên anh. Mấy ngàn gốc sim rừng tự tay Vân đào bới vun trồng giờ đã tím xanh khu đồi. Câu ca dao về sim người quê tôi hò trại ra, một dị bản lạ-“Đói lòng dạo rú hái sim/ Uống lưng bát nước đi tìm người thương”. Không hiểu lẽ gì ra thế? Dù là “ăn nửa trái sim” hay “dạo rú hái sim”- tôi nghĩ dân gian có lý lẽ riêng mà nghiệm ra lời nào cũng đắc địa đầy thi vị. Ngày nhỏ mùa sim quê nhà tôi đã cùng mẹ dạo rú hái sim. Mấy chục năm rồi tôi mới tìm lại được khoảnh khắc yêu thương thơ mộng và lãng mạn đến thế. Cảm ơn chàng Vân và đồi sim lộng gió…
B’Lao đang mùa mưa. Chàng Vân lo lắm. Mấy người bạn thợ đá đầu đèo Bảo Lộc nghe chuyện Vườn Ca Dao- họ đồng cảm muốn được chia sẻ với Vân. Đó là đá, đá là chuyện hàng đầu để có vườn ca dao. Cả mấy tháng trời chạy vạy hì hục với sự hỗ trợ của xe máy cùng bạn bầu, Vân đã có hàng trăm khối đá, có tảng nặng tới mấy chục tấn.
Phía trước đang chờ chàng Vân chẳng dễ dàng gì. Sắp xếp đá đan xen với khu vườn và lối đi như thế nào để có một tổng thể- sim- đá- ca dao và ca dao hài hòa dân dã giữa trời mây sông nước? Rồi chuyện chạm khắc ca dao trên đá phải ra sao để tụng ca- tôn vinh những viên ngọc bích mộc mạc của dân gian? Anh cười tươi thanh thản- bài ca dao được khắc lên đá đầu tiên trong vườn sẽ là: “Một đời gánh nắng gánh mưa/ Mòn vai mà mẹ vẫn chưa yên lòng”…
Ngày khai trương vườn ca dao để mọi người thưởng ngoạn Vân dự tính vào mùa xuân Nhâm Thìn. Tôi đang chờ mong từng ngày còn chàng Vân thì gọi ngày đó là “Niềm hạnh phúc và ước mơ xanh"
(*) Đồi sim và vườn ca dao của Nguyễn Đức Vân tọa lạc ở thôn 3, xã Lộc Châu thuộc Tp. Bảo Lộc, Lâm Đồng. Hiện anh đã trồng được khoảng 3000 gốc sim rừng đang sum xuê xanh tốt, đá tảng được đưa về vườn chừng vài trăm viên có tảng nặng mấy chục tấn- anh đang chuẩn bị chạm khắc ca dao lên đá- dự kiến hoàn thành trước tết Nhâm Thìn. Nguyễn Đức Vân ở Bảo Lộc được bà con bạn bè thích thú yêu mến gọi là -Chàng trai của niềm hạnh phúc và ước mơ xanh. Số điện thoại của chàng Vân: 0918 649 707
Lê Quang Kết
20 Nguyễn Thái Bình, Tp. Bảo Lộc, Lâm Đồng
ĐT: 0633 717 123- 0907 615 510
Email: lequang54@gmail.com
Lê Quang Kết
Chàng trai Nguyễn Đức Vân rất trẻ. Anh sinh ra và lớn lên với núi rừng, thừa hưởng ở cha mình một núi thơ và sự gắn bó hồn hậu với rừng xanh.
Thuở nơi này còn hoang vắng Vân đã có ngày tháng vỡ hoang đào xới trồng cây phủ xanh đồi thông Phương Bối. Bẵng một thời gian tôi nghe anh bỏ rừng về với phố thị. Một chút hụt hẫng trong tôi nhưng không- chỉ là chuyện mưu sinh và chắt chiu vốn liếng để Vân quay về với ngày xưa ấy…về với núi rừng …
Anh bảo với tôi cách đây 5 năm:- Trồng sim và vườn ca dao, đó là ý tưởng và nguyện ước của mình trên đất này…Tôi ngập ngừng e ngại :- Hay là trồng một ít cà phê hay chè để độ nhật…Nhưng chàng Vân đâu chỉ có thế!
Người kể cũng lạ. Vân chẳng qua trường lớp, ngày nhỏ trên núi mẹ dạy anh đọc viết rồi cô Sáu dạy kèm Vân mấy năm bậc tiểu học. Anh phải tìm cách tự học để hoàn tất chương trình phổ thông trung học- vươn lên làm người có ích và khẳng định mình. Cách đây 10 năm anh ra tập thơ đầu tay “Người đẹp”- một sự khổ luyện câu chữ. Nhàn đàm với Vân tôi có thêm điều bổ ích bổ sung vào trang giáo án- bài giảng môn ngữ văn.
Từ thơ anh bước vào nhạc cũng nhẹ nhàng tự nhiên từ giai điệu đến ca từ. Chỉ mấy năm ba đĩa hát “Đồi thông Phương Bối”,“Màu yêu thương”, “Hoa trái ngày thơ” ra đời. Nghệ sĩ ưu tú Tạ Minh Tâm; ca sĩ Hồng Hạnh, Thùy Dương, Thanh Thúy, Vân Khánh… đã tham gia biểu diễn và có lời khen ý vị, tương cầu. Mới đây tôi lại được đọc tập bản thảo tập thơ “Cánh hoa vừa hé” của Vân sắp in- những tứ thơ rất lạ và rất riêng của chàng trai rừng thuần khiết…Đọc thơ nghe nhạc chàng Vân, một tình cảm chân thành thấm đẫm tình yêu thiên nhiên buổi ban sơ, trân trọng nâng niu sự trong lành của cỏ cây hoa trái…
Đồi sim- ước mơ xanh của chàng Vân giờ đã hiện thực. Mùa sim năm rồi tôi đã có những ngày vui bên anh. Mấy ngàn gốc sim rừng tự tay Vân đào bới vun trồng giờ đã tím xanh khu đồi. Câu ca dao về sim người quê tôi hò trại ra, một dị bản lạ-“Đói lòng dạo rú hái sim/ Uống lưng bát nước đi tìm người thương”. Không hiểu lẽ gì ra thế? Dù là “ăn nửa trái sim” hay “dạo rú hái sim”- tôi nghĩ dân gian có lý lẽ riêng mà nghiệm ra lời nào cũng đắc địa đầy thi vị. Ngày nhỏ mùa sim quê nhà tôi đã cùng mẹ dạo rú hái sim. Mấy chục năm rồi tôi mới tìm lại được khoảnh khắc yêu thương thơ mộng và lãng mạn đến thế. Cảm ơn chàng Vân và đồi sim lộng gió…
B’Lao đang mùa mưa. Chàng Vân lo lắm. Mấy người bạn thợ đá đầu đèo Bảo Lộc nghe chuyện Vườn Ca Dao- họ đồng cảm muốn được chia sẻ với Vân. Đó là đá, đá là chuyện hàng đầu để có vườn ca dao. Cả mấy tháng trời chạy vạy hì hục với sự hỗ trợ của xe máy cùng bạn bầu, Vân đã có hàng trăm khối đá, có tảng nặng tới mấy chục tấn.
Phía trước đang chờ chàng Vân chẳng dễ dàng gì. Sắp xếp đá đan xen với khu vườn và lối đi như thế nào để có một tổng thể- sim- đá- ca dao và ca dao hài hòa dân dã giữa trời mây sông nước? Rồi chuyện chạm khắc ca dao trên đá phải ra sao để tụng ca- tôn vinh những viên ngọc bích mộc mạc của dân gian? Anh cười tươi thanh thản- bài ca dao được khắc lên đá đầu tiên trong vườn sẽ là: “Một đời gánh nắng gánh mưa/ Mòn vai mà mẹ vẫn chưa yên lòng”…
Ngày khai trương vườn ca dao để mọi người thưởng ngoạn Vân dự tính vào mùa xuân Nhâm Thìn. Tôi đang chờ mong từng ngày còn chàng Vân thì gọi ngày đó là “Niềm hạnh phúc và ước mơ xanh"
(*) Đồi sim và vườn ca dao của Nguyễn Đức Vân tọa lạc ở thôn 3, xã Lộc Châu thuộc Tp. Bảo Lộc, Lâm Đồng. Hiện anh đã trồng được khoảng 3000 gốc sim rừng đang sum xuê xanh tốt, đá tảng được đưa về vườn chừng vài trăm viên có tảng nặng mấy chục tấn- anh đang chuẩn bị chạm khắc ca dao lên đá- dự kiến hoàn thành trước tết Nhâm Thìn. Nguyễn Đức Vân ở Bảo Lộc được bà con bạn bè thích thú yêu mến gọi là -Chàng trai của niềm hạnh phúc và ước mơ xanh. Số điện thoại của chàng Vân: 0918 649 707
Lê Quang Kết
20 Nguyễn Thái Bình, Tp. Bảo Lộc, Lâm Đồng
ĐT: 0633 717 123- 0907 615 510
Email: lequang54@gmail.com
Thứ Ba, 23 tháng 8, 2011
PHÁT BIỂU NHÂN THU HOẠCH PHÂN MÔN TRIẾT HỌC MÁC- LÊ-NIN- SAU ĐẠI HỌC – TỪ NGÀY 12/8 – 21/8/2011
Kính thưa Quý vị quan khách
Kính thưa Thầy Nguyễn Tiến Hữu
Kính thưa Ban Giám hiệu nhà trường
Kính thưa các anh chị đồng nghiệp tham gia lớp học
Tôi ký tên dưới đây là Lê Quang Kết, giáo viên ở mức trung bình của Trường Cao đẳng Công nghệ và Kinh tế Bảo Lộc- xin có lời thưa nhân thu hoạch bộ môn Triết học Mác- Lê- nin do thầy Thạc sĩ Triết học- nếu tôi nhớ không lầm là thầy đã bảo vệ Luận văn Thạc sĩ loại xuất sắc (phát ngôn của thầy có đông đủ các học viên cùng nghe). Lâu lắm rồi từ ngày ngưng tham gia giảng dạy môn triết tôi lại được vinh dự và tự hào sống trong bầu không khí “Yêu mến sự thông thái” mà thời trai trẻ say mê và yêu thích. Được học với thầy Hữu tôi thấy mình như được lớn lên thêm về giọng nói của người xứ Nghệ to rõ minh triết như nhà hùng biện- thuyết khách thời Trung cổ đi chu du làm công việc du thuyết khắp thiên hạ về học thuyết của mình. Thầy còn là đại kiện tướng và dự bị đại kiện tướng của nhiều bộ môn thể dục thể thao như bắn súng, võ thuật, các môn phối hợp trong lực lượng vũ trang và hình như còn các lĩnh vực học thuật khác mà tôi chỉ nghe thầy giảng qua loáng thoáng… Có một thầy giáo giảng dạy Triết học như thế quả là niềm tự hào cho đội ngũ tri thức chuyên ngành triết học của nước nhà. Riêng bản thân tôi thì cho đó là tài sản quý báu như trân châu của đất nước cần được xiển dương và ra sức bảo vệ- mất đi là một sự thiệt thòi lớn cho Tổ quốc.
Cầm cuốn bài giảng triết học trong tay tôi sung sướng đến chảy nước mắt. Tài liệu giảng dạy là công sức tâm huyết và trí tuệ của thầy mình- câu trong Kinh thi được các học trò của Khổng Tử sưu tập mà tôi được nghe từ thuở nhỏ hiện về trong trí nhớ “ Nhất tự vi sư bán tự vi sư”. Mình may mắn và diễm phúc được học với một người thầy toàn diện về cả năng lực trí tuệ lẫn sức mạnh cơ bắp. Thầy còn biên soạn cả bộ Giáo trình Triết học Mác- Lê- nin dày cộm với nhiều các khái niệm thuật ngữ trừu tượng khó hiểu- phía dưới ký tên đầy xác tín: Th.S: Nguyễn Tiến Hữu. Thôi thì từ từ về nhà hẳn hay. Thế nhưng khi đối chiếu với tập bài giảng của Khoa Triết Trường Đại học Kinh tế quốc dân thì hỡi ôi…nó y chang 100% kể cả các dấu chấm phẩy và phần chú thích cùng số dòng số trang…Hay là mình nhầm lẫn chăng? Cô Ngoan bảo rằng Thầy Hữu nói thầy có sửa chữa bổ sung và hiệu đính tập bài giảng này để trở thành của mình…Ừ thì gặp thầy Hữu để hỏi vậy? Thầy đã bổ sung chỗ nào? Dòng nào? Trang nào? Nhóm tác giả biên soạn có đồng ý không? Căn cứ khoa học nào cho việc làm ấy…Và còn nhiều thứ khác nữa như Công ước Bern về quyền sở hữu trí tuệ, về quyền tác giả, rồi chuyện đạo bài giảng giáo trình đang nở rộ những năm gần đây- trong đó có người là Giáo sư Tiến sĩ…Tôi tá hỏa và bỗng nhiên đâm ra lo lắng cho thầy mình. Nếu sinh viên hay người học hay tác giả kiện tụng thầy mình thì sao đây? Lỡ ra thầy mình bị truy tố vì tội đạo thì biết đâu lại liên đới đến cậu học trò say mê triết học như mình?...Một loạt những câu hỏi dễ và khó lẩn quẩn trong đầu cậu học trò năm nay đang là lứa U.60 như tôi…Không khéo mình stress mất.
Tôi cố gắng thật sự để tập trung nghe giảng. Bài hát hàng năm vào dịp 20 tháng 11 thổn thức: Khi thầy chép bài bụi phấn rơi nghiêng/ Có hạt bụi nào rơi trên bục giảng/ Có hạt bụi nào rơi trên tóc thầy…Cố lên. Chúng tôi đang cố học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh- đặc biệt là tấm gương tự học của người. Một người Việt chỉ vốn liếng tiếng Pháp ít ỏi ở bậc phổ thông đã tự vươn lên để làm chủ bút kiêm phóng viên của hai tờ báo xuất bản ở Pháp- tờ Le Paria và L’humité. Bác của chúng ta nặng lòng vì Tổ quốc thế nên chẳng có thời gian cắp sách ngồi đũng trên ghế nhà trường. Lòng đang miên man thì nghe tiếng giảng đinh chắc của thầy: - Bác Hồ có tới bốn bằng Tiến sĩ, tôi nói có bằng chứng hẳn hoi…Tôi sững sờ…hay là mình nghe nhầm. Hỏi người ngồi kế bên. Đúng thầy Hữu nói như thế, anh không tin sao? Tôi tin thầy mình chứ. Nhưng đành phải hỏi thầy một đôi câu cho ra lẽ: - Bốn bằng Tiến sĩ của Bác do trường Đại học nào cấp? Dựa trên tư liệu nào? Tác giả là ai? Nhà xuất bản nào? Năm xuất bản? Tác giả đó và nhà xuất bản kia độ tin cậy đến bao nhiêu phần trăm…là vừa…
Một nhà khoa học người thầy triết học- khoa học của mọi khoa học mà thiếu tinh thần khoa học đến độ ấy sao. Tôi không tưởng tượng nổi?
Cụ Nguyễn Du là thiên tài văn chương nước nhà. Truyện Kiều là thông điệp gửi đi cho mọi thế hệ, bởi vì lúc nào ở đâu chúng ta cũng tìm thấy ở đó những điều kỳ thú mới lạ. Thậm chí nhà nghiên cứu Phạm Quỳnh còn nói quá khi viết: Truyện Kiều còn nước ta còn tiếng ta còn. Thế nhưng một học sinh phổ thông cơ sở hay phổ thông trung học đều có thể trả lời: Nội dung truyện Kiều cụ dựa hoàn toàn vào tác phẩm viết bằng văn xuôi có tên là Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Vì thế chẳng ai dại gì để đưa ra luận cứ: - Cụ Nguyễn Du đã sáng tạo và dựng lên các nhân vật Vương Thúy Kiều, Kim Trọng, Thúc Sinh hay Từ Hải…Thế mà liên hệ bài giảng thầy đã đặt ra điều này với câu chữ và nhấn giọng đầy xác tín. Hóa ra thầy dạy triết của mình ngộ nhận và nhầm lẫn tai hại đến thế sao? Sao lại có người dạy đại học… và ấu trĩ đến thế! Cha ông ta từng khuyên con cháu: - Biết thì thưa thốt không biết thì dựa cột mà nghe. Văn chương hay triết học hay bất kỳ bộ môn khoa học nào cũng thiên hình vạn trạng và không ai tự hào mình biết hết mọi thứ. Hãy trở về vị trí khiêm tốn của mình- dù là người quét rác hay vận động viên gì gì đó… vẫn là chuyện của muôn đời, phải không thầy Th.S. Nguyễn Tiến Hữu?
Lão Tử là bậc hiền triết phương Đông là nhà duy vật. Học thuyết của ông có thể tóm tắt một số điểm cơ bản như sau:
• Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam vạn vật
• Người tri túc, không bao giờ nhục(tri túc bất nhục)
• Lưới trời lồng lộng, cao mà khó lọt'"Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất thất"
• Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái, bát quái sinh vạn vật...
• Tự biết mình là người sáng suốt. Thắng được người là có sức mạnh. Thắng được mình là kiên cường.
• Đạo khả Đạo phi thường Đạo. Danh khả danh phi thường danh
• Người thuận theo đất, đất thuận theo trời, trời thuận theo Đạo, Đạo thuận theo tự nhiên". (đã dịch sang thuần Việt)
Thầy Hữu của chúng ta đã giảng chỗ này có thể nói là không hiểu gì cả mà còn mang màu sắc duy tâm huyền bí đưa con người vào chỗ mê tín. Tôi xin bổ sung đôi điều nhưng thú thật cũng chỉ là Cưỡi ngựa xem hoa thôi
Kinh (經 jīng) có nghĩa là một tác phẩm kinh điển, trong tiếng Hoa có gốc gác từ "quy tắc" hay "bền vững", hàm ý rằng tác phẩm này miêu tả những quy luật tạo hóa không thay đổi theo thời gian.
Dịch (易 yì) có nghĩa là "thay đổi" hay "chuyển động".
Khái niệm ẩn chứa sau tiêu đề này là rất sâu sắc. Nó có ba ý nghĩa cơ bản có quan hệ tương hỗ như sau:
• Giản dịch - thực chất của mọi thực thể. Quy luật nền tảng của mọi thực thể trong vũ trụ là hoàn toàn rõ ràng và đơn giản, không cần biết là biểu hiện của nó là khó hiểu hay phức tạp.
• Biến dịch - hành vi của mọi thực thể. Vạn vật trong vũ trụ là liên tục thay đổi. Nhận thức được điều này con người có thể hiểu được tầm quan trọng của sự mềm dẻo trong cuộc sống và có thể trau dồi những giá trị đích thực để có thể xử sự trong những tình huống khác nhau.
• Bất dịch - bản chất của thực thể. Vạn vật trong vũ trụ là luôn thay đổi, tuy nhiên trong những thay đổi đó luôn luôn tồn tại nguyên lý bền vững - quy luật trung tâm - là không đổi theo không gian và thời gian.
Tóm lại:
Vì biến dịch, cho nên có sự sống.
Vì bất dịch, cho nên có trật tự của sự sống.
Vì giản dịch, nên con người có thể qui tụ mọi biến động sai biệt thành những quy luật để tổ chức đời sống xã hội.
Hay: Thiên hạ chi động, trinh phù nhất (Dịch Hệ từ hạ truyện).
Từ các điều nói trên người ta đưa ra Càn- trời, Chấn- sấm, Khảm- nước, Cấn- núi, Khôn- đất, Tốn- gió, Ly- hỏa, Đoài- đầm. Nội quái và ngoại quái thành 64 quẻ ứng với mạng người. Nhiều chiêm tinh gia dựa vào quẻ để chấm tử vi, xem phong thủy và thậm chí là bói toán theo dạng đồng bóng. Tôi xin phép được nói một chân lý bất tuyệt: Th.S. Nguyễn Tiến Hữu chưa có thời gian và điều kiện để nghiên cứu Lão Tử - bát quái hay kinh dịch vì thế lại càng lúng túng và giải thích chẳng ra môn ra khoai. Học trò tôi thấy hơi ái ngại và buồn cười cho một người không chịu tìm tòi và có thể nói không quá là “Ếch ngồi đáy giếng”. Nếu đi hơi quá thì cho tôi xin lỗi…
Một vấn đề có đụng đến triết học- đó là thuyết tiến hóa của Darwin. Thầy nói đến hai lần hay ba lần gì đó về quy luật tiến hóa từ vượn người thành người và khẳng định một cách vô căn cứ: Người hiện đại nếu trên thân thể nhiều lông lá là người nguyên thủy chưa tiến hóa kịp hay nói cách khác- họ ngu đần hơn người bình thường. Nói như thế vô tình đụng vào nỗi đau người khác và riêng cá nhân- tôi cho rằng luận điểm này xúc phạm đến nhiếu cá nhân cả đang ngồi trong lớp học lẫn nhiều người ngoài cộng đồng xã hội. Đây là yếu tố có mối quan hệ huyết thống, di truyền, cơ địa mỗi người chứ không thể như ý kiến “Cả vú lấp miệng em” của thầy Hữu…Dù rằng tôi là người hoàn toàn ngoại đạo với lĩnh vực này. Tôi mong có anh chị nào tìm hiểu kỹ thuyết tiến hóa cho ý kiến thêm. Tôi thiết tha mong thầy Hữu tiếp thu để chúng ta cùng tiến bộ…
Th.S. Nguyễn Tiến Hữu còn trình bày bài giảng với nhiếu dẫn chứng phi khoa học và thiếu lôgic khi đưa ra chuyện thời bao cấp- việc sản xuất xăm lốp Sao Vàng. Một chiếc lốp Sao Vàng đưa sang Liên Xô cũ người ta mừng quýnh vì với một chiếc như thế người ta có thể làm tới mười chiếc. Có thể nói quá nhiều những liên hệ so sánh nhưng dẫn chứng của thầy chỉ cốt để gây cười- nghiệm ra thì vô bổ xằng bậy chứ chưa nói đến phản tác dụng và nếu ở độ tuổi sinh viên thì đó là chuyện Vạch đường cho hươu chạy. Sinh viên với tuổi thanh niên tò mò hiếu kỳ- cách giảng của thầy như thế sẽ là mối nguy hiểm cho nhiều thế hệ được học triết học ông Hữu. Mong thầy Hữu thận trọng và tự đánh giá lại bản thân mình. Điều này tôi biết vô cùng khó nhưng tôi tin chắc một giảng viên triết học dày dạn kinh nghiệm và một thể lực sung mãn như thầy thì sẽ rất ư là dễ dàng. Phải không Thạc sĩ Nguyễn Tiến Hữu?
Cuối cùng là chuyện câu hỏi kiểm tra và thi. Tôi cho đây là chuyện hệ trọng bậc nhất của ngành giáo dục nói chung và của thầy trò nói riêng. Thầy Hữu cho 5 câu hỏi, chúng tôi ai cũng lo lắng và ghi chép cẩn trọng. Bốn câu đầu chỉ là kiến thức cơ bản từ sách vở -thôi cũng thế thôi. Câu thứ năm cuối cùng cũng có thể coi là đề mở. Chúng tôi may mắn có học đôi chút văn học vì thế thuộc câu của Phó Nguyên súy hội thơ Tao Đàn Thân Nhân Trung do chính vua Lê Thánh Tôn làm Chủ súy- Tao Đàn nhị thập bát tú quy tụ 28 ngôi sao ưu tú dưới thời Đại Việt thịnh thi. Nguyên văn là : “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì đất nước mạnh và ngày càng lớn, nguyên khí suy thì nước yếu và ngày càng xuống cấp”. Thầy đã trích sai “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Nguyên khí mạnh thì đất nước thịnh. Nguyên khí suy thì đất nước yếu”- Bỏ hẳn hai ý khá cơ bản. Mọi người có đi học ai cũng biết trích dẫn bất kỳ câu nói của người nào sách nào đều phải nguyên văn không thêm không bớt, còn phải ghi rõ nguồn và có chú thích rõ ràng. Hay câu này do thầy Hữu sáng tạo ra cũng nên- được thế thì không biết chừng…Thầy tôi trên cả tuyệt vời. Thầy ra đề sai thì sao nhỉ? Học trò nên làm hay tùy nghi để giấy trắng và đáp án sẽ sao đây? Hay là giảng viên giảng dạy sau đại học có uy quyền tuyệt đối muốn làm gì thì làm...
Pascal là nhà triết học và toán học từng phát biểu rằng: Cái tôi là cái đáng ghét. Nhà Phật cũng bảo: Phải diệt ngã để lớn lên. Thầy giáo đứng trên bục giảng phải luôn khiêm tốn trước học trò- nhiều người khuyên thế. Chúng tôi đều là người có tham gia giảng dạy ít nhiều. Bản thân tôi còn phải “Học, học nữa, học mãi”- dù rằng mình đang độ tuổi chuẩn bị nghỉ hưu. Tôi nói điều này với tâm tư trĩu nặng của một người cộng sản còn chút lương tâm. Mong thầy độ lượng hỉ xã và đại xá cho.
Lời chào cộng sản trân trọng nhất./.
Kính thưa Thầy Nguyễn Tiến Hữu
Kính thưa Ban Giám hiệu nhà trường
Kính thưa các anh chị đồng nghiệp tham gia lớp học
Tôi ký tên dưới đây là Lê Quang Kết, giáo viên ở mức trung bình của Trường Cao đẳng Công nghệ và Kinh tế Bảo Lộc- xin có lời thưa nhân thu hoạch bộ môn Triết học Mác- Lê- nin do thầy Thạc sĩ Triết học- nếu tôi nhớ không lầm là thầy đã bảo vệ Luận văn Thạc sĩ loại xuất sắc (phát ngôn của thầy có đông đủ các học viên cùng nghe). Lâu lắm rồi từ ngày ngưng tham gia giảng dạy môn triết tôi lại được vinh dự và tự hào sống trong bầu không khí “Yêu mến sự thông thái” mà thời trai trẻ say mê và yêu thích. Được học với thầy Hữu tôi thấy mình như được lớn lên thêm về giọng nói của người xứ Nghệ to rõ minh triết như nhà hùng biện- thuyết khách thời Trung cổ đi chu du làm công việc du thuyết khắp thiên hạ về học thuyết của mình. Thầy còn là đại kiện tướng và dự bị đại kiện tướng của nhiều bộ môn thể dục thể thao như bắn súng, võ thuật, các môn phối hợp trong lực lượng vũ trang và hình như còn các lĩnh vực học thuật khác mà tôi chỉ nghe thầy giảng qua loáng thoáng… Có một thầy giáo giảng dạy Triết học như thế quả là niềm tự hào cho đội ngũ tri thức chuyên ngành triết học của nước nhà. Riêng bản thân tôi thì cho đó là tài sản quý báu như trân châu của đất nước cần được xiển dương và ra sức bảo vệ- mất đi là một sự thiệt thòi lớn cho Tổ quốc.
Cầm cuốn bài giảng triết học trong tay tôi sung sướng đến chảy nước mắt. Tài liệu giảng dạy là công sức tâm huyết và trí tuệ của thầy mình- câu trong Kinh thi được các học trò của Khổng Tử sưu tập mà tôi được nghe từ thuở nhỏ hiện về trong trí nhớ “ Nhất tự vi sư bán tự vi sư”. Mình may mắn và diễm phúc được học với một người thầy toàn diện về cả năng lực trí tuệ lẫn sức mạnh cơ bắp. Thầy còn biên soạn cả bộ Giáo trình Triết học Mác- Lê- nin dày cộm với nhiều các khái niệm thuật ngữ trừu tượng khó hiểu- phía dưới ký tên đầy xác tín: Th.S: Nguyễn Tiến Hữu. Thôi thì từ từ về nhà hẳn hay. Thế nhưng khi đối chiếu với tập bài giảng của Khoa Triết Trường Đại học Kinh tế quốc dân thì hỡi ôi…nó y chang 100% kể cả các dấu chấm phẩy và phần chú thích cùng số dòng số trang…Hay là mình nhầm lẫn chăng? Cô Ngoan bảo rằng Thầy Hữu nói thầy có sửa chữa bổ sung và hiệu đính tập bài giảng này để trở thành của mình…Ừ thì gặp thầy Hữu để hỏi vậy? Thầy đã bổ sung chỗ nào? Dòng nào? Trang nào? Nhóm tác giả biên soạn có đồng ý không? Căn cứ khoa học nào cho việc làm ấy…Và còn nhiều thứ khác nữa như Công ước Bern về quyền sở hữu trí tuệ, về quyền tác giả, rồi chuyện đạo bài giảng giáo trình đang nở rộ những năm gần đây- trong đó có người là Giáo sư Tiến sĩ…Tôi tá hỏa và bỗng nhiên đâm ra lo lắng cho thầy mình. Nếu sinh viên hay người học hay tác giả kiện tụng thầy mình thì sao đây? Lỡ ra thầy mình bị truy tố vì tội đạo thì biết đâu lại liên đới đến cậu học trò say mê triết học như mình?...Một loạt những câu hỏi dễ và khó lẩn quẩn trong đầu cậu học trò năm nay đang là lứa U.60 như tôi…Không khéo mình stress mất.
Tôi cố gắng thật sự để tập trung nghe giảng. Bài hát hàng năm vào dịp 20 tháng 11 thổn thức: Khi thầy chép bài bụi phấn rơi nghiêng/ Có hạt bụi nào rơi trên bục giảng/ Có hạt bụi nào rơi trên tóc thầy…Cố lên. Chúng tôi đang cố học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh- đặc biệt là tấm gương tự học của người. Một người Việt chỉ vốn liếng tiếng Pháp ít ỏi ở bậc phổ thông đã tự vươn lên để làm chủ bút kiêm phóng viên của hai tờ báo xuất bản ở Pháp- tờ Le Paria và L’humité. Bác của chúng ta nặng lòng vì Tổ quốc thế nên chẳng có thời gian cắp sách ngồi đũng trên ghế nhà trường. Lòng đang miên man thì nghe tiếng giảng đinh chắc của thầy: - Bác Hồ có tới bốn bằng Tiến sĩ, tôi nói có bằng chứng hẳn hoi…Tôi sững sờ…hay là mình nghe nhầm. Hỏi người ngồi kế bên. Đúng thầy Hữu nói như thế, anh không tin sao? Tôi tin thầy mình chứ. Nhưng đành phải hỏi thầy một đôi câu cho ra lẽ: - Bốn bằng Tiến sĩ của Bác do trường Đại học nào cấp? Dựa trên tư liệu nào? Tác giả là ai? Nhà xuất bản nào? Năm xuất bản? Tác giả đó và nhà xuất bản kia độ tin cậy đến bao nhiêu phần trăm…là vừa…
Một nhà khoa học người thầy triết học- khoa học của mọi khoa học mà thiếu tinh thần khoa học đến độ ấy sao. Tôi không tưởng tượng nổi?
Cụ Nguyễn Du là thiên tài văn chương nước nhà. Truyện Kiều là thông điệp gửi đi cho mọi thế hệ, bởi vì lúc nào ở đâu chúng ta cũng tìm thấy ở đó những điều kỳ thú mới lạ. Thậm chí nhà nghiên cứu Phạm Quỳnh còn nói quá khi viết: Truyện Kiều còn nước ta còn tiếng ta còn. Thế nhưng một học sinh phổ thông cơ sở hay phổ thông trung học đều có thể trả lời: Nội dung truyện Kiều cụ dựa hoàn toàn vào tác phẩm viết bằng văn xuôi có tên là Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Vì thế chẳng ai dại gì để đưa ra luận cứ: - Cụ Nguyễn Du đã sáng tạo và dựng lên các nhân vật Vương Thúy Kiều, Kim Trọng, Thúc Sinh hay Từ Hải…Thế mà liên hệ bài giảng thầy đã đặt ra điều này với câu chữ và nhấn giọng đầy xác tín. Hóa ra thầy dạy triết của mình ngộ nhận và nhầm lẫn tai hại đến thế sao? Sao lại có người dạy đại học… và ấu trĩ đến thế! Cha ông ta từng khuyên con cháu: - Biết thì thưa thốt không biết thì dựa cột mà nghe. Văn chương hay triết học hay bất kỳ bộ môn khoa học nào cũng thiên hình vạn trạng và không ai tự hào mình biết hết mọi thứ. Hãy trở về vị trí khiêm tốn của mình- dù là người quét rác hay vận động viên gì gì đó… vẫn là chuyện của muôn đời, phải không thầy Th.S. Nguyễn Tiến Hữu?
Lão Tử là bậc hiền triết phương Đông là nhà duy vật. Học thuyết của ông có thể tóm tắt một số điểm cơ bản như sau:
• Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam vạn vật
• Người tri túc, không bao giờ nhục(tri túc bất nhục)
• Lưới trời lồng lộng, cao mà khó lọt'"Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất thất"
• Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái, bát quái sinh vạn vật...
• Tự biết mình là người sáng suốt. Thắng được người là có sức mạnh. Thắng được mình là kiên cường.
• Đạo khả Đạo phi thường Đạo. Danh khả danh phi thường danh
• Người thuận theo đất, đất thuận theo trời, trời thuận theo Đạo, Đạo thuận theo tự nhiên". (đã dịch sang thuần Việt)
Thầy Hữu của chúng ta đã giảng chỗ này có thể nói là không hiểu gì cả mà còn mang màu sắc duy tâm huyền bí đưa con người vào chỗ mê tín. Tôi xin bổ sung đôi điều nhưng thú thật cũng chỉ là Cưỡi ngựa xem hoa thôi
Kinh (經 jīng) có nghĩa là một tác phẩm kinh điển, trong tiếng Hoa có gốc gác từ "quy tắc" hay "bền vững", hàm ý rằng tác phẩm này miêu tả những quy luật tạo hóa không thay đổi theo thời gian.
Dịch (易 yì) có nghĩa là "thay đổi" hay "chuyển động".
Khái niệm ẩn chứa sau tiêu đề này là rất sâu sắc. Nó có ba ý nghĩa cơ bản có quan hệ tương hỗ như sau:
• Giản dịch - thực chất của mọi thực thể. Quy luật nền tảng của mọi thực thể trong vũ trụ là hoàn toàn rõ ràng và đơn giản, không cần biết là biểu hiện của nó là khó hiểu hay phức tạp.
• Biến dịch - hành vi của mọi thực thể. Vạn vật trong vũ trụ là liên tục thay đổi. Nhận thức được điều này con người có thể hiểu được tầm quan trọng của sự mềm dẻo trong cuộc sống và có thể trau dồi những giá trị đích thực để có thể xử sự trong những tình huống khác nhau.
• Bất dịch - bản chất của thực thể. Vạn vật trong vũ trụ là luôn thay đổi, tuy nhiên trong những thay đổi đó luôn luôn tồn tại nguyên lý bền vững - quy luật trung tâm - là không đổi theo không gian và thời gian.
Tóm lại:
Vì biến dịch, cho nên có sự sống.
Vì bất dịch, cho nên có trật tự của sự sống.
Vì giản dịch, nên con người có thể qui tụ mọi biến động sai biệt thành những quy luật để tổ chức đời sống xã hội.
Hay: Thiên hạ chi động, trinh phù nhất (Dịch Hệ từ hạ truyện).
Từ các điều nói trên người ta đưa ra Càn- trời, Chấn- sấm, Khảm- nước, Cấn- núi, Khôn- đất, Tốn- gió, Ly- hỏa, Đoài- đầm. Nội quái và ngoại quái thành 64 quẻ ứng với mạng người. Nhiều chiêm tinh gia dựa vào quẻ để chấm tử vi, xem phong thủy và thậm chí là bói toán theo dạng đồng bóng. Tôi xin phép được nói một chân lý bất tuyệt: Th.S. Nguyễn Tiến Hữu chưa có thời gian và điều kiện để nghiên cứu Lão Tử - bát quái hay kinh dịch vì thế lại càng lúng túng và giải thích chẳng ra môn ra khoai. Học trò tôi thấy hơi ái ngại và buồn cười cho một người không chịu tìm tòi và có thể nói không quá là “Ếch ngồi đáy giếng”. Nếu đi hơi quá thì cho tôi xin lỗi…
Một vấn đề có đụng đến triết học- đó là thuyết tiến hóa của Darwin. Thầy nói đến hai lần hay ba lần gì đó về quy luật tiến hóa từ vượn người thành người và khẳng định một cách vô căn cứ: Người hiện đại nếu trên thân thể nhiều lông lá là người nguyên thủy chưa tiến hóa kịp hay nói cách khác- họ ngu đần hơn người bình thường. Nói như thế vô tình đụng vào nỗi đau người khác và riêng cá nhân- tôi cho rằng luận điểm này xúc phạm đến nhiếu cá nhân cả đang ngồi trong lớp học lẫn nhiều người ngoài cộng đồng xã hội. Đây là yếu tố có mối quan hệ huyết thống, di truyền, cơ địa mỗi người chứ không thể như ý kiến “Cả vú lấp miệng em” của thầy Hữu…Dù rằng tôi là người hoàn toàn ngoại đạo với lĩnh vực này. Tôi mong có anh chị nào tìm hiểu kỹ thuyết tiến hóa cho ý kiến thêm. Tôi thiết tha mong thầy Hữu tiếp thu để chúng ta cùng tiến bộ…
Th.S. Nguyễn Tiến Hữu còn trình bày bài giảng với nhiếu dẫn chứng phi khoa học và thiếu lôgic khi đưa ra chuyện thời bao cấp- việc sản xuất xăm lốp Sao Vàng. Một chiếc lốp Sao Vàng đưa sang Liên Xô cũ người ta mừng quýnh vì với một chiếc như thế người ta có thể làm tới mười chiếc. Có thể nói quá nhiều những liên hệ so sánh nhưng dẫn chứng của thầy chỉ cốt để gây cười- nghiệm ra thì vô bổ xằng bậy chứ chưa nói đến phản tác dụng và nếu ở độ tuổi sinh viên thì đó là chuyện Vạch đường cho hươu chạy. Sinh viên với tuổi thanh niên tò mò hiếu kỳ- cách giảng của thầy như thế sẽ là mối nguy hiểm cho nhiều thế hệ được học triết học ông Hữu. Mong thầy Hữu thận trọng và tự đánh giá lại bản thân mình. Điều này tôi biết vô cùng khó nhưng tôi tin chắc một giảng viên triết học dày dạn kinh nghiệm và một thể lực sung mãn như thầy thì sẽ rất ư là dễ dàng. Phải không Thạc sĩ Nguyễn Tiến Hữu?
Cuối cùng là chuyện câu hỏi kiểm tra và thi. Tôi cho đây là chuyện hệ trọng bậc nhất của ngành giáo dục nói chung và của thầy trò nói riêng. Thầy Hữu cho 5 câu hỏi, chúng tôi ai cũng lo lắng và ghi chép cẩn trọng. Bốn câu đầu chỉ là kiến thức cơ bản từ sách vở -thôi cũng thế thôi. Câu thứ năm cuối cùng cũng có thể coi là đề mở. Chúng tôi may mắn có học đôi chút văn học vì thế thuộc câu của Phó Nguyên súy hội thơ Tao Đàn Thân Nhân Trung do chính vua Lê Thánh Tôn làm Chủ súy- Tao Đàn nhị thập bát tú quy tụ 28 ngôi sao ưu tú dưới thời Đại Việt thịnh thi. Nguyên văn là : “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì đất nước mạnh và ngày càng lớn, nguyên khí suy thì nước yếu và ngày càng xuống cấp”. Thầy đã trích sai “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Nguyên khí mạnh thì đất nước thịnh. Nguyên khí suy thì đất nước yếu”- Bỏ hẳn hai ý khá cơ bản. Mọi người có đi học ai cũng biết trích dẫn bất kỳ câu nói của người nào sách nào đều phải nguyên văn không thêm không bớt, còn phải ghi rõ nguồn và có chú thích rõ ràng. Hay câu này do thầy Hữu sáng tạo ra cũng nên- được thế thì không biết chừng…Thầy tôi trên cả tuyệt vời. Thầy ra đề sai thì sao nhỉ? Học trò nên làm hay tùy nghi để giấy trắng và đáp án sẽ sao đây? Hay là giảng viên giảng dạy sau đại học có uy quyền tuyệt đối muốn làm gì thì làm...
Pascal là nhà triết học và toán học từng phát biểu rằng: Cái tôi là cái đáng ghét. Nhà Phật cũng bảo: Phải diệt ngã để lớn lên. Thầy giáo đứng trên bục giảng phải luôn khiêm tốn trước học trò- nhiều người khuyên thế. Chúng tôi đều là người có tham gia giảng dạy ít nhiều. Bản thân tôi còn phải “Học, học nữa, học mãi”- dù rằng mình đang độ tuổi chuẩn bị nghỉ hưu. Tôi nói điều này với tâm tư trĩu nặng của một người cộng sản còn chút lương tâm. Mong thầy độ lượng hỉ xã và đại xá cho.
Lời chào cộng sản trân trọng nhất./.
Thứ Năm, 4 tháng 8, 2011
Thứ Tư, 3 tháng 8, 2011
Giai phẩm Vu Lan 2011

Đón đọc giai phẩm Giác Ngộ - Vu lan 2011
02/08/2011 10:50 (GMT+7)
Kích cỡ chữ: Giảm Tăng
Giác Ngộ - Giai phẩm Giác Ngộ - Vu lan 2011 được thực hiện với chuyên đề về tâm hiếu thảo, lòng khoan dung - những giá trị làm nên tình thương, hàn gắn những vết nứt trong cuộc sống hôm nay...
Quý độc giả thân mến,
Trước những thông tin về bạo lực, những chuyện tiêu cực hàng ngày trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhiều người tỏ ra lo lắng về chất lượng đời sống xã hội của chúng ta hiện nay. Dường như con người ngày càng ít có tính kiên nhẫn, nghèo lòng khoan dung, lãnh cảm đối với nỗi đau, sự bất hạnh…
Bìa Giác Ngộ số đặc biệt 601 - Vu lan 2011, PL.2555
Những lo lắng đó không phải là vô cớ. Sự bùng nổ của thông tin, cùng với kích thích về nhu cầu hưởng thụ vô cùng tận của thị trường, sự tấn công ồ ạt của các trào lưu, lối sống lệch lạc…; trong lúc đó định hướng về sự phát triển của xã hội qua giáo dục học đường thì mơ hồ, không thực sự thuyết phục, quản lý văn hóa thì chỉ mang tính rượt đuổi, đối phó mà chưa có chiến lược lâu dài… Một cách khách quan, chưa bao giờ lý tưởng phụng sự trở nên chông chênh, các giá trị sống bị hoài nghi như lúc này. Nhiều ý kiến được phát biểu, nhiều cuộc điều tra xã hội học được tiến hành, nhiều tiếng chuông cảnh báo đã được gióng lên, tất cả cùng một lời: Hãy hành động trước khi quá muộn!
Do vậy, ý nghĩa của Đại lễ Vu lan, hơn bao giờ hết, cần được phổ biến trong xã hội. Vu lan khởi nguồn được xem là ngày của niềm vui (hoan hỷ nhật), là dịp mà ở đó chư Tăng hội tụ sau 3 tháng chuyên tu, đối trước nhau thành thật tự phê bình và cầu mong người khác chỉ lỗi của mình để tự khắc phục và nỗ lực thăng tiến trong đời sống tâm linh (Tự tứ nhật).
Vu lan là lễ hội của lòng hiếu thảo, của tâm khoan dung với sự tích liên quan đến Tôn giả Mục Kiền Liên sau khi tu chứng liền nghĩ ngay đến người Mẹ của mình, nhờ Đức Thế Tôn hướng dẫn, nương nhờ oai lực Thánh chúng đã chuyển nghiệp khiến người Mẹ bị đọa vào ngạ quỷ được giải thoát kiếp đọa đày.
Vu lan là lễ hội của lòng tri ân và báo đáp ơn sâu, đối với người Phật tử, đó là ơn sâu của Tam bảo và Thầy tổ đã cho một hướng sống thiện lành, Cha mẹ đã cho hình hài và dày công dưỡng dục, Tổ quốc - xã hội đã truyền cho nếp văn hóa được hun đúc ngàn đời với bao hy sinh của các bậc tiền bối hữu công, Môi trường - Những nhân duyên trùng trùng khác đã hỗ tương cho ta sự sống này.
Chính vì vậy, giai phẩm Giác Ngộ - Vu lan 2011 được thực hiện với chuyên đề về tâm hiếu thảo, lòng khoan dung - những giá trị làm nên tình thương, hàn gắn những vết nứt trong cuộc sống hôm nay.
Nội dung chi tiết của giai phẩm được thể hiện ở hai tiểu mục lục: Tâm hiếu thảo - Lòng khoan dung (trang 16) và Lời yêu thương (trang 50).
Bạn sẽ được lắng lòng và cảm nhận đầy đủ hơn về hiếu hạnh -hạnh lành được đức Phật dạy là hạnh Phật qua các bài viết dưới đây:
1.Hiếu thảo & lòng khoan dung:
-Sanh tử sự đại (HT.Thích Thanh Từ)
-Mùa hội Thánh (Hạnh Chiếu)
-Phật dạy làm cha mẹ (Chúc Phú)
-Gia tài thực thụ (Khải Thiên)
-Hạnh hiếu và lòng khoan dung (Nguyên Cẩn)
-Phục hồi một xã hội hiếu thảo (Nguyễn Thế Đăng)
-Vướng lụy hình hài (Tịnh Minh)
-Hiếu của Người - Hiếu theo Phật (Ngô Khắc Tài)
-Ngôi chùa theo tinh thần Pháp Hoa (HT.Thích Trí Quảng)
-Xin lỗi hoa Quỳnh (Như Đức)
2.Lời yêu thương:
-Triết lý đi tìm người thương (Thích Phước Đạt)
-Cha mẹ: Thầy dẫn đạo cho con (Vĩnh Hảo)
-Hành điệu (Thông Quảng)
-Nhánh cỏ - Cánh đồng & gió (Trương Đạm Thủy)
-Mẹ & một chuyến đi (Huệ Giáo)
-“Bông hồng cài áo” - Giai điệu & ca từ tuyệt mỹ về mẹ (Lê Quang Kết)
-Níu dấu chim bay (Hạnh Đoan)
-Sâu thẳm tình thương (H.Diệu)
-Nợ một lời ca dao (Doãn Lê)
-Cái bếp của mẹ (Võ Khoa Châu)
-Ngàn lời yêu thương (Cao Ngọc Hồng Ân, Lê Đình Ký, Hiền Linh, Óc Tiêu)
-Tháng Bảy mùa chay - những cung bậc và nỗi niềm (Pháp Đàm)
Và thơ của Trần Quê Hương, Nguyễn Đức Dũng, Võ Thị Hồng Tơ, Phan Thành Minh, Nguyên Tiêu, Nguyễn Miên Thượng, Đông Tùng, Nguyễn Đức Vân, Trần Huy Minh Phương, Nguyễn Dũng, Nguyễn Thánh Ngã, Hà Đức Ái)…
Báo sẽ phát hành vào ngày 6-8-2011, kính mời bạn đọc đón theo dõi. Thông tin chi tiết, xin liên hệ Ban Phát hành, Tel: (08) 39300675 - 39306982
Giác Ngộ
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
